Bài viết

Sân bay Đà Nẵng tháng đầu mới giải phóng

Chấp hành quyết định của trên, ngày 9-11-1974, Quân chủng Phòng không-Không quân (PK-KQ) tổ chức bộ phận tiền phương đi B (miền Nam) trong thời gian hai năm (1975-1976)...

Hà Tĩnh12/04/2026Ban Biên tập tổng hợp2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Chấp hành quyết định của trên, ngày 9-11-1974, Quân chủng Phòng không-Không quân (PK-KQ) tổ chức bộ phận tiền phương đi B (miền Nam) trong thời gian hai năm (1975-1976). Bộ phận này có khoảng 700 người, là tổ chức tiền phương của quân chủng, có quy mô lớn nhất, thời gian dài nhất từ trước tới nay, trong đó sở chỉ huy tiền phương có 120 người. Các cơ quan của quân chủng, các lực lượng cao xạ, tên lửa, không quân, ra-đa đều tổ chức bộ phận tiền phương riêng.

Quân Giải phóng đánh chiếm Sân bay Đà Nẵng. Ảnh tư liệu.

Ngày 15-2-1975, bộ phận tiền phương quân chủng bắt đầu hành quân. Đầu tháng 3-1975, đến Tà Cơn, tiền phương quân chủng bố trí trong khu vực Sư đoàn Phòng không 377. Tối 28-3-1975, tiền phương Quân chủng PK-KQ bắt đầu cơ động, chia làm hai bộ phận: Phần lớn lực lượng hành quân theo Đường Trường Sơn, triển khai ở Plei-cu. Bộ phận còn lại do tôi, lúc ấy là Phó trưởng phòng Tác chiến Quân chủng, chỉ huy theo Đường 1 vào TP Đà Nẵng. Đà Nẵng là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa lớn nhất và cũng là căn cứ hải-lục-không quân lớn nhất của đối phương ở miền Trung.

6 giờ sáng 29-3-1975, chúng tôi tới Đà Nẵng. Thành phố lúc này đang trong tình trạng náo loạn, dày đặc bọn lính ngụy thất trận, súng ống, quân trang vứt đầy đường, tìm đường chạy trốn. Tôi vào Sở chỉ huy Sư đoàn 1 Không quân ngụy trong Sân bay Đà Nẵng. Trên bàn làm việc của tên Chuẩn tướng không quân ngụy Phan Phụng Tiên còn cốc sữa đang uống dở, mũ kê-pi không kịp mang, giấy tờ vứt tung tóe. Tên này đã vội lên trực thăng bay ra biển. Trên sân bay có hàng trăm ô tô, xe máy của bọn ngụy để lại, nhiều xe vẫn còn nổ máy; nhiều máy bay, chủ yếu là trực thăng UH1 nằm rải rác trên sân bay, ngoài cánh đồng, trên núi cao do bọn lái ngụy hạ cánh để chạy trốn.

Theo lệnh của Tư lệnh Quân chủng PK-KQ, chúng tôi được giao nhiệm vụ: Khẩn trương kiểm kê tài sản, thu hồi, sửa chữa máy bay, các phương tiện kỹ thuật-hậu cần; dọn dẹp sân bãi, cấp cứu quân ngụy bị thương, chôn cất lính ngụy tử trận trong sân bay; bố trí hệ thống phòng thủ, bảo đảm an ninh sân bay. Nhanh chóng khôi phục hoạt động sân bay, mở cầu hàng không để chuyên chở cán bộ vào Nam, ra Bắc, vận chuyển đạn dược, thuốc men, lương thực... cho chiến trường. Đồng thời, nghiên cứu hệ thống phòng không bảo vệ Đà Nẵng, giúp Sư đoàn Phòng không 375 triển khai chiến đấu, thay thế Sư đoàn Phòng không 673 vào chiến đấu phía Nam.

Trưa 29-3, hai máy bay của ta (một chiếc MI-8, một chiếc IL-18) chở cán bộ, nhân viên không quân đến Sân bay Đà Nẵng để khôi phục hệ thống thông tin liên lạc, điện nước, xăng dầu và trạm dẫn đường (ra-đa) trên bán đảo Sơn Trà. Trong các công việc này, chúng tôi đã mạnh dạn dùng các nhân viên phi công ngụy đã giác ngộ ở lại với Quân Giải phóng; họ làm việc chăm chỉ, chuyên nghiệp, không có trường hợp nào phá hoại, làm hư hỏng khí tài.

Ngày 3-4, Bộ tư lệnh Quân chủng PK-KQ vào Đà Nẵng kiểm tra tình hình. Sau khi báo cáo xong, tôi đưa Tư lệnh Quân chủng Lê Văn Tri, Chính ủy Quân chủng Hoàng Phương và một số thủ trưởng cơ quan quân chủng lên bán đảo Sơn Trà. Trên đỉnh núi, hai máy ra-đa bị ngụy đốt cháy rụi; còn lại vòm che khí tài. Phó tư lệnh ra-đa Đào Dương nhận nhiệm vụ đưa ra-đa của ta vào thay thế, nhanh chóng quản lý vùng trời Đà Nẵng và miền Trung. Ngày 5-4, cầu hàng không đã mở được tuyến Đà Nẵng-Huế-Hà Nội, Đà Nẵng - Buôn Ma Thuột - Plei-cu và ngược lại bằng máy bay IL14, IL18, AN 24. Lực lượng không quân tổ chức một đơn vị kỹ thuật hậu cần tương đương cấp trung đoàn làm nhiệm vụ quản lý sân bay, điều hành bay do các chuyến bay Hà Nội lên Tây Nguyên và ngược lại ngày càng tăng.

Ngày 9-4, chúng tôi tiếp nhận Nguyễn Thành Trung, phi công vừa ném bom dinh Độc Lập, bảo vệ đồng chí Trung chờ làm nhiệm vụ đặc biệt.

Ngày 16-4, Quân đoàn 2 giải phóng Phan Rang, bắt sống tên Trung tướng Nguyễn Vĩnh Nghi, Tư lệnh Quân đoàn 2 ngụy, Thiếu tướng cố vấn Mỹ U.Giêm và tên Chuẩn tướng Sang, Tư lệnh Không quân ngụy tại Sân bay Phan Rang. Một cán bộ Cục II đưa hai tên tướng ngụy này tới Sân bay Đà Nẵng vào ngày 17-4, yêu cầu chúng tôi chuyển bằng máy bay ra Hà Nội gấp để cấp trên khai thác kế hoạch bố phòng của địch, nhằm bổ sung kịp thời kế hoạch chiến dịch của ta.

Khoảng 17 giờ ngày 28-4, Phi đội Quyết Thắng gồm 5 phi công lái 5 máy bay A37 do đồng chí Nguyễn Văn Lục chỉ huy, đồng chí Nguyễn Thành Trung dẫn đường, cất cánh từ Sân bay Phan Rang (Thành Sơn) bay ném bom xuống Sân bay Tân Sơn Nhất, làm cho sân bay bị tê liệt. Phi đội Quyết Thắng trở về thắng lợi, an toàn. Với một tuần lễ huấn luyện chuyển loại A37 của không quân ngụy, Phi đội Quyết Thắng đã thực hiện “dùng máy bay địch đánh địch” góp phần vào truyền thống lịch sử của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng.

Chỉ trong thời gian một tháng tại TP Đà Nẵng mới giải phóng (29-3 đến 30-4-1975), với tinh thần khẩn trương, trách nhiệm chính trị cao, bộ phận công tác Sân bay Đà Nẵng của chúng tôi cùng các lực lượng bạn đã hoàn thành khối lượng lớn công việc tại chỗ, chi viện trực tiếp cho chiến trường, chủ yếu cho Chiến dịch Hồ Chí Minh, giải phóng miền Nam. Chúng tôi đã nhanh chóng mở các tuyến bay vào Nam ra Bắc. Không quân vận tải đã thực hiện 163 chuyến bay, chuyên chở 4.250 cán bộ, nhân viên, vận chuyển 120,7 tấn vũ khí, thiết bị (có 48 tấn đạn pháo cho xe tăng), hàng tấn bản đồ TP Sài Gòn, ảnh Bác Hồ, băng cờ, biểu ngữ, truyền đơn, thuốc men, lương thực... đáp ứng nhu cầu cấp bách của chiến dịch. Đồng thời, cùng với cơ quan Quân khu 5 và Sư đoàn Phòng không 375 triển khai hệ thống phòng không bảo vệ vùng trời mới giải phóng.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn