SÁNG KIẾN MÌN MO CAU
Trong các tập hồ sơ theo dõi của Mật thám Pháp vùng Hà Nam Ninh thời kỳ 1949–1953, cái tên Trần Văn Chuông là một cơn ác mộng dai dẳng. Bọn chúng không thể hiểu nổi bằng cách nào một người lính da bọc xương, từng bị giam cầm trong những nhà giam kiên cố nhất với gông xiềng và đòn tra tấn tàn khốc, lại có thể 7 lần biến mất khỏi trại giam như một bóng ma để rồi vài tuần sau lại xuất hiện cùng những tiếng nổ kinh hoàng trên đường xe cơ giới.
Công lao lớn nhất của Trần Văn Chuông không chỉ nằm ở lòng dũng cảm xông xới, mà còn ở trí tuệ sáng tạo bậc thầy trong nghệ thuật chiến tranh nhân dân.
Thời điểm năm 1949, quân Pháp tự tin vào dàn máy dò mìn kim loại hiện đại nhập khẩu từ Tây Âu. Những tuyến đường huyết mạch qua Hà Đông, Hà Nam liên tục bị rà soát gắt gao, khiến các trận địa phục kích bằng mìn của ta nguy cơ bị vô hiệu hóa.
Chính trong cái khó ấy, Trần Văn Chuông đã nảy ra sáng kiến "mìn mo cau". Anh dùng sơn quét lên vỏ quả mìn, bọc bên ngoài một lớp mo cau khô rồi dùng giấy phết nhựa sung bọc kín lại. Chưa dừng lại ở đó, anh nghĩ ra chiêu thức rải vô số mảnh sắt vụn, mảnh bom đạn gỉ gỉ rải rác khắp mặt đường. Khi lính dò mìn Pháp quét qua, máy kêu liên tục ở mọi vị trí khiến chúng phát điên vì rà đâu cũng thấy tín hiệu sắt vụn, tâm lý hoang mang, chán nản bỏ cuộc. Và đúng lúc chúng chủ quan nhất thì quả mìn ngụy trang bằng mo cau bên dưới mới thực sự phát nổ.
Phương pháp "đánh mìn kiểu Trần Văn Chuông" nhanh chóng được phổ biến khắp toàn Quân khu 3, biến từng đoạn đê, từng con đường rải đá thành cạm bẫy ám ảnh quân cướp nước.
Trần Văn Chuông còn là hiện thân của tinh thần "gan sắt da đồng". Trong trận đánh bốt Quyển Sơn (1950), anh dẫn đầu tổ xung kích, tay lăm lăm cắp kiếm xông thẳng vào chốt gác, chém gục tại chỗ 4 lính Pháp để mở đường cho đại đội tràn lên. Khi địch từ trong hầm ngầm điên cuồng quăng lựu đạn ra, anh nhanh như gắt, dùng tay bắt lấy từng quả lựu đạn khi kíp còn đang xì khói rồi ném ngược trở lại lỗ châu mai. Mặc dù bị thương rất nặng, máu đẫm vệt áo nát, anh vẫn giấu kín vết thương, nén đau tiêu diệt thêm 8 tên địch cho đến khi trận địa hoàn toàn cắm cờ chiến thắng.
7 lần bị địch bắt, 7 lần hứng chịu những trận đòn roi nát thịt xé da, nhưng không chiếc gông sắt hay bức tường đá nào giam giữ được ý chí của người con đất Bình Lục. Lần nào cũng vậy, chỉ sau một thời gian ngắn mưu trí phá khóa, khoét tường vượt ngục, anh lại tìm về với đồng đội, tay lại cầm súng, mắt lại rình gài mìn ven đê.
Tháng 2 năm 1954, khi cuộc kháng chiến chống Pháp bước vào giai đoạn quyết định, Trần Văn Chuông đã anh dũng hy sinh trong một trận chiến ác liệt ở tuổi 25.
Anh ngã xuống khi mùa xuân độc lập đã ở rất gần. Năm 1955, anh được Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.
Không tô vẽ hào hoa, công lao của Anh hùng Liệt sĩ Trần Văn Chuông được đo bằng chính con số 392 tên địch bị tiêu diệt, 79 xe quân sự bị đập tan và sự kiên trung bất tử của một người chiến sĩ chưa từng biết lùi bước trước bất kỳ ngục tối nào của kẻ thù.



