SÁNG MÃI TÊN ANH KIM ĐỒNG - NGƯỜI ĐỘI TRƯỞNG ĐẦU TIÊN CỦA CHÚNG TA
Mỗi sớm mai thức dậy, khoác lên mình bộ đồng phục tươm tất và cẩn thận thắt chiếc khăn quàng đỏ tươi trên cổ, trái tim tôi – một Đội viên ưu tú – lại rung lên những nhịp đập tự hào. Chiếc khăn quàng đỏ không chỉ là đồng phục, mà là lời nhắc nhở thiêng liêng về máu đào của các anh hùng liệt sĩ đã đổ xuống vì nền độc lập tự do của Tổ quốc. Khi lật giở những trang sách Lịch sử oai hùng, hay khi say sưa nhìn lên những tấm bản đồ Địa lí của chương trình lớp 6 để xác định từng dãy núi, con sông nơi biên cương Tổ quốc, tôi luôn dành một sự trân trọng đặc biệt cho vùng đất Cao Bằng. Bởi lẽ, nơi núi non trùng điệp, mây ngàn gió núi ấy không chỉ là nơi che chở cho Bác Hồ sau 30 năm bôn ba tìm đường cứu nước, mà còn là nơi khai sinh ra Đội Nhi đồng Cứu quốc (tiền thân của Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh ngày nay).
Và ở nơi cội nguồn thiêng liêng đó, có một vì sao đã sáng bừng lên trong đêm đen nô lệ, một biểu tượng bất diệt của lòng dũng cảm và tinh thần yêu nước tuổi thiếu niên: Anh hùng liệt sĩ Kim Đồng – Người Đội trưởng đầu tiên của chúng ta. Câu chuyện về anh không chỉ là một chương hào hùng trong dòng chảy lịch sử dân tộc, mà còn là cuốn sách giáo khoa vô giá về nhân cách, về lý tưởng sống cho lớp lớp thế hệ măng non Việt Nam.
Cậu bé Nông Văn Dền và quê hương Nà Mạ rực lửa căm hờn
Kim Đồng, tên thật là Nông Văn Dền, sinh năm 1929 trong một gia đình người dân tộc Nùng nghèo khổ tại thôn Nà Mạ, xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng. Về mặt địa lý, Cao Bằng là một tỉnh miền núi biên giới phía Bắc, địa hình hiểm trở với những dãy núi đá vôi cao ngất trời, những cánh rừng rậm rạp và những hang động tự nhiên kín đáo. Chính địa thế "rừng che bộ đội, rừng vây quân thù" này đã biến Cao Bằng trở thành cái nôi của cách mạng Việt Nam trong những năm tháng kháng chiến chống Pháp.
Tuy nhiên, trước khi ánh sáng cách mạng soi rọi, tuổi thơ của Dền bị bao phủ bởi bóng đen tàn bạo của chế độ thực dân phong kiến. Quê hương Nà Mạ nghèo khó của anh ngày đêm rên xiết dưới gót giày xâm lược. Cha của Dền bị bọn tay sai bắt đi phu, làm việc quần quật đến kiệt sức và bỏ mạng nơi đất khách quê người. Mẹ Dền, một người phụ nữ nông dân lam lũ, phải gồng gánh nuôi nấng những đứa con thơ dại trong cảnh sưu cao thuế nặng, cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc. Những người anh trai của Dền sớm nhận thức được nỗi nhục mất nước đã bí mật tham gia hoạt động cách mạng.
Sống trong một gia đình có truyền thống yêu nước, tận mắt chứng kiến cảnh xóm làng bị giặc càn quét, đốt phá, đồng bào bị đánh đập dã man, cậu bé Dền đã sớm mang trong lòng một nỗi căm thù giặc sâu sắc. Dền không có tuổi thơ vô âu vô lo như chúng ta. Thay vì những trò chơi con trẻ, Dền làm quen với việc canh gác, nắm tình hình, nghe ngóng tin tức giúp các anh cán bộ Việt Minh. Sự nhanh nhẹn, thông minh và đôi mắt sáng rực của Dền đã sớm lọt vào tầm nhìn của những người làm cách mạng tại địa phương.
Mùa xuân năm 1941 và sự ra đời của Đội Nhi đồng Cứu quốc
Mùa xuân năm 1941 là một dấu mốc lịch sử trọng đại không thể nào quên. Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc (Bác Hồ kính yêu) sau 30 năm bôn ba hải ngoại đã bí mật trở về nước, chọn hang Pác Bó (Cao Bằng) làm căn cứ địa để trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng Việt Nam. Không khí cách mạng ở Cao Bằng lúc bấy giờ sục sôi hơn bao giờ hết.
Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 8 (tháng 5/1941) diễn ra tại Pác Bó đã quyết định thành lập Mặt trận Việt Minh. Đứng trước yêu cầu của lịch sử, Đảng ta và Bác Hồ nhận thấy cần phải tập hợp mọi tầng lớp nhân dân, không phân biệt già trẻ, gái trai vào trận tuyến đánh đuổi quân thù. Ngay đối với lứa tuổi thiếu niên, nhi đồng, cũng cần có một tổ chức riêng để các em được rèn luyện, đóng sức lực nhỏ bé của mình cho quê hương.
Và ngày 15 tháng 5 năm 1941, tại gần hang Pác Bó, một sự kiện lịch sử của tuổi trẻ Việt Nam đã diễn ra: Đội Nhi đồng Cứu quốc chính thức được thành lập. Ban đầu, Đội chỉ có 5 thành viên: Nông Văn Dền, Nông Văn Thàn, Lý Văn Tinh, Lý Thị Nì, Lý Thị Xậu. Tại lễ thành lập, anh Đức Thanh (cán bộ phụ trách) đã phân tích rõ ý nghĩa của việc cứu nước và đặt bí danh cho từng người để đảm bảo bí mật.
Nông Văn Dền được vinh dự mang bí danh Kim Đồng (có nghĩa là "Đứa trẻ vàng" - biểu tượng cho sự trong sáng, quý giá và kiên trung). Không chỉ vậy, nhờ sự nhanh nhẹn, tháo vát và tư chất thủ lĩnh, Kim Đồng đã được bầu làm Đội trưởng đầu tiên của Đội. Đứng dưới bóng cây rừng Pác Bó, 5 người Đội viên đầu tiên đã nắm chặt tay nhau, thề lời thề tuyệt đối trung thành với Đảng, với Bác Hồ, quyết tâm giữ bí mật, làm tốt nhiệm vụ giao liên, bảo vệ cán bộ và vận động thiếu nhi cùng tham gia cứu quốc.
Người chiến sĩ giao liên nhỏ tuổi mang trí tuệ lớn
Trở thành Đội trưởng, Kim Đồng nhận thức rất rõ vai trò và trách nhiệm của mình. Nhiệm vụ chính của Đội lúc bấy giờ là làm giao liên, đưa đón cán bộ cách mạng, chuyển thư từ, tài liệu bí mật và canh gác các buổi họp quan trọng.
Bằng sự am hiểu tường tận địa hình đồi núi, từng con suối, từng lối mòn của quê hương, kết hợp với trí thông minh tuyệt vời, Kim Đồng đã biến mình thành một người chiến sĩ tình báo nhí xuất sắc. Anh thường đóng giả làm cậu bé đi chăn trâu, đi cắt cỏ hay hái măng rừng. Trong chiếc giỏ tre cũ kỹ, dưới những mớ cỏ non tươi mát, thường là những tài liệu mật quan trọng của Đảng được cất giấu khéo léo.
Có lần, khi đang mang tài liệu mật, Kim Đồng phát hiện bọn lính dõng đang đi tuần tra về phía mình. Nhận thấy không thể quay đầu lại vì sẽ sinh nghi, anh bình tĩnh tiến lên phía trước. Khi bọn lính nạt nộ, chặn lại xét hỏi, Kim Đồng giả vờ ngơ ngác, hồn nhiên mải mê đuổi theo một con chim rừng đang bay trượt qua cành cây, miệng huýt sáo vang. Bọn lính thấy một cậu bé chăn trâu mặt mũi lấm lem, mải chơi như vậy thì cười khẩy, mắng vài câu rồi bỏ đi. Nhờ sự mưu trí chớp nhoáng đó, tài liệu đã được bảo vệ an toàn.
Lại có lần, anh được giao nhiệm vụ dẫn đường cho một cán bộ cấp cao (chính là đồng chí Lê Quảng Ba) vượt qua vùng địch kiểm soát. Đêm tối đen như mực, rừng núi âm u, đường đi trơn trượt dốc đứng, lại thêm tai mắt kẻ thù giăng khắp nơi. Kim Đồng đi trước, vừa thoăn thoắt phát cây mở đường, vừa cẩn thận nghe ngóng từng tiếng lá xào xạc, từng tiếng chó sủa từ các bản làng phía xa để phán đoán tình hình. Bất cứ khi nào có dấu hiệu bất thường, anh lại ra hiệu cho cán bộ ẩn nấp. Sự tháo vát, dũng cảm và kỷ luật của người Đội trưởng nhỏ tuổi đã giúp biết bao chuyến đi của các đồng chí lãnh đạo được trót lọt, an toàn.
Buổi sáng mùa xuân bi tráng bên suối Lênin và bản hùng ca bất tử
Đầu năm 1943, phong trào cách mạng ở Cao Bằng phát triển vô cùng mạnh mẽ, khiến thực dân Pháp và tay sai vô cùng lo sợ. Chúng điên cuồng tăng cường càn quét, bủa lưới vây ráp nhằm tiêu diệt cơ quan đầu não của ta.
Ngày 15 tháng 2 năm 1943, một buổi sáng mùa xuân sương mù còn giăng kín những tán cây rừng Nà Mạ, một cuộc họp bí mật của Tỉnh ủy Cao Bằng đang diễn ra. Kim Đồng được phân công làm nhiệm vụ canh gác, cảnh giới từ xa để bảo vệ cuộc họp.
Đang làm nhiệm vụ, đôi mắt tinh anh của Kim Đồng bỗng phát hiện một toán lính Pháp và việt gian được trang bị vũ khí tận răng đang bí mật men theo bờ suối, lặng lẽ tiến về phía có các đồng chí cán bộ đang họp. Tình thế lúc này ngàn cân treo sợi tóc. Nếu để bọn chúng tiến sát thêm chút nữa, cơ quan đầu não của ta sẽ bị bao vây, toàn bộ cán bộ cấp cao sẽ gặp nguy hiểm, tổn thất đối với cách mạng là không thể đong đếm được.
Trong giây phút sinh tử ấy, trí óc của người Đội trưởng 14 tuổi hoạt động nhanh hơn bao giờ hết. Không chần chừ, Kim Đồng quyết định dùng chính bản thân mình làm mồi nhử để đánh lạc hướng kẻ thù. Anh yêu cầu người bạn cùng đi nhanh chóng chạy về báo tin cho các cán bộ rút lui, còn mình thì cố tình chạy lướt qua những bụi cây phát ra tiếng động lớn, để lộ mục tiêu.
Thấy bóng người, bọn lính ngỡ là cán bộ Việt Minh nên hô hoán, chĩa súng đuổi theo Kim Đồng. Anh cứ thế chạy, chạy ngược lại hướng của cuộc họp, dẫn dụ bọn giặc ra xa khu vực an toàn. Lợi dụng địa hình, Kim Đồng nhảy qua những gờ đá tảng, chạy dọc theo con suối. Bọn giặc phát hiện bị mắc lừa, chúng điên cuồng nổ súng.
Đoàng! Đoàng!
Những tiếng nổ chát chúa xé toạc không gian thanh bình của núi rừng. Một viên đạn nghiệt ngã của kẻ thù đã bắn trúng anh. Kim Đồng ngã xuống bên bờ suối Lênin trong xanh. Máu của anh tuôn chảy, nhuộm đỏ cả một vùng cỏ non và dòng nước mùa xuân.
Nhờ tiếng súng báo động và sự hy sinh thân mình đánh lạc hướng của Kim Đồng, các đồng chí cán bộ đã kịp thời rút lui vào rừng sâu an toàn. Hôm ấy, Kim Đồng mới bước sang tuổi 14 - độ tuổi của những Đội viên trường trung học cơ sở hôm nay. Anh đã vĩnh viễn nằm lại trong lòng đất mẹ quê hương, hóa thân thành linh hồn của núi rừng Cao Bằng, bảo vệ cho nhịp đập của trái tim cách mạng.
“Hờn căm bao lũ tham tàn phát xít/ Dấn bước ra đi Kim Đồng lên chiến khu/ Kim Đồng quê hương Việt Bắc xa mù...”
Mỗi lần giai điệu của bài hát "Kim Đồng" vang lên trong các buổi sinh hoạt Liên đội, tôi lại cảm thấy rưng rưng xúc động. Hơn 80 năm đã trôi qua kể từ ngày anh ngã xuống, quê hương Nà Mạ nay đã thay da đổi thịt, đất nước đã hòa bình, phồn vinh. Nhưng hình ảnh cậu bé người dân tộc Nùng mặc áo chàm, mắt sáng như sao, nhanh nhẹn băng rừng lội suối vẫn sống mãi trong triệu triệu trái tim thiếu nhi Việt Nam.
Là một học sinh, một Đội viên ưu tú trong nhiều năm liền, khi tự mình hệ thống lại những bài học Lịch sử và Địa lí, tự tay vẽ nên những Lược đồ tư duy số hóa về chặng đường cách mạng của dân tộc, tôi càng thấm thía sâu sắc hơn giá trị của hai chữ "Hòa bình". Để chúng ta được ngồi trong những lớp học khang trang, được tiếp cận với công nghệ 3D, với STEM hay những kỹ năng hiện đại, lớp lớp cha anh như Kim Đồng, Lê Văn Tám, Vừ A Dính... đã phải dùng cả máu và tuổi thanh xuân của mình để đánh đổi.
Sự hy sinh của anh Kim Đồng để lại cho chúng ta bài học vô giá về Lòng trung thành tuyệt đối và tinh thần sẵn sàng cống hiến. Dù trong hoàn cảnh khó khăn nhất, anh vẫn giữ trọn lời thề với tổ chức. Ngày nay, Đội viên chúng ta thể hiện sự trung thành ấy bằng việc yêu kính Bác Hồ, yêu Tổ quốc, chấp hành tốt nội quy nhà trường và pháp luật nhà nước.
Anh còn dạy cho chúng ta bài học về Sự mưu trí, dũng cảm và tinh thần tự học. Kim Đồng không được đến trường, nhưng anh học từ cuộc sống, từ nhiệm vụ, am hiểu tự nhiên để hoàn thành sứ mệnh. Tuổi trẻ hôm nay đối mặt với một "cuộc chiến" khác: cuộc chiến với sự tụt hậu về tri thức. Chúng ta phải dũng cảm vượt qua sự lười biếng của bản thân, không ngừng đổi mới phương pháp học tập, tích cực ứng dụng công nghệ số, khoa học kỹ thuật để nâng cao năng lực của bản thân, từ đó mới có thể góp phần xây dựng đất nước giàu mạnh.
Anh Kim Đồng ơi! Mộ anh nay nằm bình yên dưới chân núi Tèo Nài, ngày đêm nghe tiếng suối Lênin rì rào hát khúc ca muôn thuở. Đài tưởng niệm anh với bức tượng người thiếu niên dân tộc Nùng tay nâng con chim sáo bay lên bầu trời cao rộng chính là biểu tượng của khát vọng tự do, hòa bình mà anh đã dùng cả sinh mệnh để gìn giữ.
Thay mặt cho hàng triệu Đội viên mang trên vai chiếc khăn quàng đỏ thắm - màu máu của anh và các anh hùng liệt sĩ - tôi xin hứa sẽ tiếp tục thắp sáng ngọn lửa nhiệt huyết mà anh đã nhen nhóm từ đại ngàn Pác Bó. Chúng tôi sẽ không ngừng ra sức thi đua học tập tốt, rèn luyện chăm, thực hiện xuất sắc 5 điều Bác Hồ dạy. Chúng tôi nguyện đem trí tuệ, đạo đức và sức trẻ của mình để viết tiếp những trang sử vẻ vang của dân tộc, đưa đất nước Việt Nam vươn cao, bay xa, sánh vai cùng các cường quốc năm châu, xứng đáng là lớp “măng non” kế cận của Đảng, là những Đội viên kiêu hãnh của Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh!



