Bài viết

SÁNG TÁC THƠ CA VÀ SINH HOẠT VĂN NGHỆ

An Giang26/06/2026BAN LIÊN LẠC TÙ BINH VIỆT NAM (ĐOÀN THANH NIÊN ĐẶC KHU PHÚ QUỐC)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

SÁNG TÁC THƠ CA VÀ SINH HOẠT VĂN NGHỆ

Đối với những người yêu nước bị giam giữ trong ngục tù Mỹ - ngụy thì ca hát là một trong những yêu cầu của chiến đấu. Vì vậy, phong trào sinh hoạt văn nghệ cũng được Đảng ủy phân khu đưa vào nghị quyết chung và trở thành một phong trào hoạt động sôi nổi như phong trào học tập, đã góp phần giúp anh em giải trí, giữ niềm lạc quan yêu đời, tin tưởng hơn vào thắng lợi của cách mạng.

Phương tiện biểu diễn, anh em nhặt những đồ phế thải của địch và tự tạo ra một số nhạc cụ khá đẹp và âm thanh tốt, như: đàn nhị, đàn nguyệt, đàn kìm, đàn tranh, đàn ghi ta, nhiều nhất là đàn Mandolin và kèn Xô na. Còn trang phục thì lấy áo quần rách, vỏ bao thuốc lá... kết lại theo từng tiết mục cho phù hợp.

Nhìn chung, các loại đàn được tự tạo như sau: thân đàn được anh em lấy những tấm gỗ thông đã được xẻ ra thành ván mà bọn địch dùng làm sạp nằm cho tù binh, rồi tự tạo ra những chiếc cưa, cưa mỏng các tấm ván gỗ thông, hơ lửa rồi uốn cong theo cấu trúc của từng loại đàn. Có những phân khu anh em dùng những tấm ván nhặt được từ các xe phân phối thực phẩm hoặc từ nhà bọn giám thị bỏ ra để làm. Trục đàn làm bằng gỗ như trục đàn violin. Anh em nhặt sợi thép đập dẹp, cắt ra làm phím đàn; lấy ruột dây điện, dây điện thoại rồi sáng chế thành dây đàn. Trong ruột dây điện có nhiều loại dây quấn lại (loại cứng và loại mềm), anh em sáng tạo ra dây Mi bằng cách dùng đá vuốt cho nhỏ lại, dây La thì để nguyên loại dây cứng, dây Rê thì dùng loại dây mềm quấn ngoài dây La, dây Sol thì quấn dày và lớn hơn, ngoài dây ruột. Archet của đàn hồ, đàn nhị, đàn violin làm bằng dây nilông mới xe lại, colophan (nhựa thông) thì được đốt, lấy ra từ những đoạn gỗ thông có mắt.

Đàn nhị: anh em lấy ống bơ để làm ống đàn, dùng nắp nhựa hũ chao mài mỏng để bịt ống, vót củi, rút dây nilông, màn tuyn làm cung, vỹ. Lấy than đỏ bỏ trong ca US của Mỹ hơ vào các mắt kiếng ván giường gỗ thông để lấy nhựa.

Đàn nguyệt: dùng ván ép mỏng làm mặt trước, gò tôn làm mặt sau và vành. Đẽo, chuốt củi làm cần. Cắt dây điện thoại của địch làm dây đàn. Dùng dây kẽm gai, chặt ngắn làm đinh để đóng đàn.

Đàn tranh: gò tôn làm máng, dùng gỗ dán làm thân đàn, dùng gỗ cò-ke hơ lửa rồi uốn làm cầu để găm trục đàn, lấy dây điện thoại của địch làm dây đàn. Để có những sợi dây “chuẩn”, anh em phải nắm cát biển để chuốt từng sợi một hết sức kỳ công, bỏng cả da tay. Để có cây đàn có khi anh em phải làm liên tục suốt 12 ngày.

Phân khu A4 có khoảng năm chục cây đàn. Nhiều lần bọn quân cảnh theo lệnh bọn chỉ huy, bất ngờ kéo vào phân khu giam để lùng tìm đàn và người chơi đàn, nhưng chúng không tìm thấy. Đây cũng là thời điểm mà đường hầm phân khu A4 sắp hoàn thành. Chúng tìm không ra đàn là vì mỗi chiếc đàn có riêng một hầm bí mật nhỏ để cất giấu. Cho nên mỗi lần chúng thất bại kéo ra là tiếng đàn tập thể lại vang lên vui vẻ, làm cho chúng vô cùng uất ức. Đến lúc này việc đào hẩm ở những ngày cuối càng khẩn trương hơn. Theo thông lệ, cứ vài ba tháng chúng lại chuyển tù nhân từ trại này đến trại khác, xáo trộn thêm một số tù ở trại khác nhập vào trại mới để vừa chống tù binh vượt ngục bằng đường hầm, vừa phá vỡ tổ chức Đảng của ta. Để kéo dài thêm thời gian ở lại trại A4 vì đường hầm gần xong, các đồng chí Đảng ủy viên thấy rằng nếu bọn địch cứ tiếp tục đi xăm hẩm tìm đàn thì sẽ bất lợi. Hơn nữa phải làm thêm một chiếc hẩm mới để “nghi binh”, vì biết rằng nếu trong vòng ba, bốn tháng mà chúng phát hiện ra hầm và có người nhận đào hầm thì chúng rất yên tâm không di chuyển tù binh sang trại khác nữa.

Thực hiện chủ trương của Đảng ủy phân khu, anh em tổ chức đào hầm nghỉ bình bên hông trái, ở dãy giữa phân khu A4. Mấy hôm sau chiếc “hẩm giả” được chúng phát hiện. Hai đoàn viên thanh niên đã đứng ra nhận đào hầm và bị bắt đi, các hầm đàn cũng lần lượt “tự giác” nộp mạng cho bọn cai tù. Chúng rất vui sướng vì đã “có công” phát hiện ra “hầm bímật” và “hẩm văn nghệ”. Vậy là kế hoạch chuyển trại được dừng lại, ý thức cảnh giác chống tù binh vượt ngục cũng tạm lắng xuống. Nôen năm 1971 cũng sắp đến! Thời cơ thuận lợi đã đến, tạo điều kiện tốt cho cuộc vượt ngục thành công.

Đảng ủy phân khu tập hợp các anh em văn nghệ sĩ, tổ chức sưu tầm và phổ biến các bài thơ ca cách mạng, động viên anh em sáng tác thơ ca, kịch, tấu hài... để biểu diễn.

Nhiều anh em tù binh có sáng tác thơ ca: anh Lý Minh Văn có một tập thơ; anh Trần Nguyên Phò có tập thơ sáng tác trong tù gồm 25 bài, trong đó có “Bài ca khí tiết” được nhiều anh em ở phân khu giam tù binh miền Bắc biết và thuộc...

Một số anh em sáng tác nhạc, kịch và biểu diễn khá thành công, trong đó đặc biệt có nhạc sĩ Phan Miêng (quê Cửu Long). Anh bị địch bắt tại Đồng bằng sông Cửu Long, ngày 1-12-1967. Sau đó, chúng đày anh ra đảo Phú Quốc. Ở Phú Quốc được một thời gian ngắn, chúng lại đưa anh về đất liền. Bản hợp xướng Cửu Long giang của nhạc sĩ Phan Miêng nổi tiếng lúc bấy giờ.

Ở Phú Quốc, nhạc sĩ Phan Miêng chọn ra 30 người có giọng hát thích hợp để lập thành ban hợp xướng. Họ tập bản hợp xướng này ròng rã một năm trời, đợi ngày ra mắt.

Nhân dịp Tết, tù nhân được ra ngoài phòng giam, 30 “diễn viên” luyện tập hàng ngày họp thành một ban hợp xướng đã biểu diễn toàn bài Cửu Long Giang gồm năm chương và ba bè. 30 lồng ngực bật ra những lời ca lúc thiết tha, lúc hào hùng như tràn ngập Trại giam Phú Quốc.

Ngoài ra, nhiều anh em không phải là nhạc sĩ cũng sáng tác những bài hát phục vụ cho các cuộc đấu tranh, trong các dịp tết ở trong tù: Bản giao hưởng hợp xướng Cửu Long Giang của anh Phan Miên ở phân khu D7 gồm ba bè với 30 người tập, vở kịch dài mang tên Đường sống của anh Nguyễn Hải Liên sáng tác và các vở tuồng, vở kịch do anh Kim Hùng (tên trong tù là Kim Anh) sáng tác...

Trong những ngày Tết, khi tình hình bớt căng thẳng sau những cuộc đấu tranh chống chiêu hồi thắng lợi, các phân khu thường tổ chức biểu diễn văn nghệ. Có khi biểu diễn ngay trên ván sạp nằm, trong từng phòng giam, tiết mục biểu diễn hầu hết là những bài sáng tác trong tù như: Ba mươi năm đời ta có Đảng (do anh Đoàn Phận hát bài chòi), Hội chuyên đề (ca cảnh do Hải Liên viết, Lưu Hạnh, Trương Văn Trí, Đoàn Phận, Hải Liên biểu diễn).

Sau cuộc vượt ngục ngày 23-12-1971, ở trại A4, anh Trung, một giáo viên trung học tỉnh Bình Định viết một bài theo thể lục bát và song thất lục bát kể về chuyến vượt ngục ấy, trong đó có câu:

“Chuyện rằng khu 4, trại A

Có chuyến vượt ngục gần xa tiếng đồn...”.

Đặc biệt, buổi diễn bên ngoài khu nhà ở, ngay ở “sân điểm danh”, có nhiều tù binh phân khu A5 xem, là hai vở ca kịch Thoại Khanh – Châu Tuấn và vở tuồng Trần Bình Trọng. Anh em biểu diễn mượn lời nhân vật để nói giữa đảo tù ngày ấy rằng: “Thà làm quỷ nước Nam còn hơn làm vương đất Bắc”, bảo vệ lòng trung thành với lý tưởng, với Đảng, với dân, gìn giữ và bảo vệ khí tiết, phẩm chất cách mạng mà bọn cai ngục không thể làm gì được.

Do hoạt động văn nghệ trong tù nên anh em nghệ sĩ được tù binh rất quý mến, nhưng ngược lại, bọn cai tù lại rất căm ghét đã tống biệt giam các anh Kim Anh (tác giả tuồng), Võ Sỹ Thừa (nghệ sỹ tuổng khu 5 sau này được phong Nghệ sĩ nhân dân), Đoàn Tiên Phong (nhạc công và diễn viên đoàn ca kịch Liên khu 5)... Sau khi ra tù, hai anh Kim Anh và Tiên Phong đã bị bệnh chết.

Hoạt động văn hóa, văn nghệ trong tù ngày ấy đã góp phần quan trọng trong việc củng cố niềm tin, khẳng định lý tưởng, động viên nhau giữ gìn phẩm chất cách mạng. Văn nghệ cũng đã góp phần làm giảm bớt sự căng thẳng vốn thường xuyên xảy ra từng ngày ở trại giam, đồng thời tạo thuận lợi cho anh em làm một số việc khác như đào hầm để vượt ngục. Hoạt động văn hóa văn nghệ trong tù đã giúp cho những nghệ sĩ chuyên nghiệp và nghiệp dư cũng như anh em tù binh tự nâng mình lên ở nhiều phương diện: tríthức, học lực, tình cảm, tư tưởng, ý chí, lập trường trong những năm tù đày bất hạnh – những điều thu nhận được ở trong nhà lao đã giúp cho anh em tù binh rất nhiều sau khi trở về đời thường.

Sống nhiều năm tháng ở phân khu biệt giam B2, một không gian bao trùm chết chóc, anh Lê Huy Thơ đã viết về phong trào văn hóa – văn nghệ:

“Bên ngoài là trại tù rào gai chằng chịt, sừng sững tháp canh, có đủ loại súng sẵn sàng nhả đạn vào trại tù. Đêm đêm lũ chó tây cùng lính gác lùng sục dưới ánh đèn pha quét rọi...

Bên trong trại giam là trường học đa chức năng, đa ngành nghề từ lý luận chính trị sơ, trung cấp đến y dược Đông Tây, đến giáo dục đào tạo từ cấp một trở lên; rồi ca dao, tục ngữ, thơ ca, âm nhạc, hội họa, điêu khắc, chăn nuôi, trồng trọt, ngoại ngữ... Học ngày, học đêm, trong phòng, đầu hè, ngoài sân, trên bảng, dưới đất. Hành động khủng bố, giết chóc là việc thường xuyên của Mỹ - ngụy; việc học tập rèn luyện từng giờ là chuyện của ta. Thầy và trò chẳng thể phân biệt, ai cũng rách rưới tả tơi, da xanh, mặt bủng, chỉ còn đôi mắt vẫn long lanh sáng niềm tin. Qua học tập kiên trì, bền chí, tù binh từng người đều trưởng thành thêm về tư tưởng, về tri thức chính trị, kinh tế, văn hóa, về tình cảm, tâm hồn tạo nên một sức sống mạnh mẽ trong tù ngục”.

Hoạt động văn hóa, văn nghệ trong Trại giam tù binh Phú Quốc là một cuộc đấu tranh một mất một còn như các cuộc đấu tranh sinh tồn khác. Dưới sự lãnh đạo của Đảng ủy các phân khu, cuộc đấu tranh này đã góp phần quan trọng, nó như một chất keo đặc biệt gắn kết các chiến sĩ bị địch bắt tù đày lại với nhau, giúp nhau nâng cao hiểu biết, không sa ngã, cùng nhau giữ vững khí tiết và niềm tin cho đến ngày chiến thắng.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn