Bài viết

Sắt son tình Đảng, nghĩa dân trên vùng đất kháng chiến Phan Hòa

Lâm Đồng03/05/2026Lâm Đặng Thùy Giang (NVK49SP)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Dọc theo dòng chảy miên viễn của lịch sử, dù trải qua bao thăng trầm, một Việt Nam nhỏ bé mà kiên cường vẫn luôn hiên ngang, chưa bao giờ chùn bước trước giông tố quân thù. Hôm nay, khi đất nước đang sống trong những ngày tháng hòa bình và phát triển, ta càng thấm thía hơn giá trị của độc lập, tự do – thành quả được đổi bằng biết bao máu xương, hy sinh của thế hệ cha ông. Trong những trang sử hào hùng ấy, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đã để lại dấu ấn đậm nét, khắc họa rõ ý chí quật cường của dân tộc. Hòa chung khí thế ấy, nhân dân xã Bắc Bình đã anh dũng đứng lên, viết nên những trang sử vẻ vang bằng lòng dũng cảm, tinh thần đoàn kết và sự hy sinh thầm lặng. Tìm hiểu về cuộc kháng chiến tại nơi đây không chỉ giúp ta hiểu rõ truyền thống quê hương, mà còn bồi đắp niềm tự hào và ý thức trách nhiệm trong việc giữ gìn những giá trị tốt đẹp cho thế hệ mai sau

Xã Phan Hòa, huyện Bắc Bình (trước đây thuộc tỉnh Bình Thuận, nay thuộc tỉnh Lâm Đồng) đã tham gia kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược lần thứ hai (01/1946 – 07/1954) với một tinh thần quả cảm. Bản hùng ca ấy bắt đầu vào những ngày cuối năm Ất Dậu (01/1946), khi nhân dân đang náo nức chuẩn bị đón cái Tết độc lập đầu tiên. Sáng ngày 29 tháng Chạp năm ấy, tiếng súng xâm lược đã biến khung cảnh đón Xuân thành những ngày tản cư lánh giặc, thổi bùng ngọn lửa căm thù trong lòng mỗi người dân Chăm, Kinh nơi đây.

Giữa bão táp chiến tranh, sự kiên trung của những người cán bộ lãnh đạo đã trở thành điểm tựa vững chắc cho lòng dân. Đồng chí Văn Quyền và đồng chí Đặng Chế Hoa là hai biểu tượng sáng ngời cho tinh thần đó. Vào những ngày đầu gian khó năm 1946, khi bộ máy chính quyền huyện Phan Lý có lúc gần như tan rã do sự phản bội của một số cán bộ chủ chốt, đồng chí Văn Quyền đã cùng đồng đội rút vào rừng sâu, bám trụ trong những chòi ruộng để gây dựng lại phong trào. Không chỉ là một lãnh đạo quân sự, ông còn là chiến sĩ trên mặt trận văn hóa khi trực tiếp biên soạn và in ấn tờ báo “Liên Hữu” bằng cả tiếng Việt và tiếng Chăm, góp phần đập tan âm mưu “chia để trị” của kẻ thù. Với uy tín lớn lao, ông từng giữ chức Chủ tịch Ủy ban Kháng hành huyện Phan Lý và sau này là Chủ tịch Ủy ban Kháng hành xã Phan Hòa. Ngay cả khi bị giặc bắt và giam cầm tại nhà lao Hòa Đa (7/1950), ông vẫn hiên ngang giữ vững khí tiết, được bầu làm Bí thư nhà lao để tiếp tục lãnh đạo anh em đấu tranh.

Song hành cùng ông là đồng chí Đặng Chế Hoa, người “đứng mũi chịu sào” trong những giai đoạn cam go nhất của xã Phan Hòa. Khi xã được thành lập vào cuối năm 1949, ông được tin tưởng giao giữ chức Bí thư kiêm Chủ tịch Ủy ban Kháng hành đầu tiên. Ông chính là hạt nhân lãnh đạo Ban căn cứ ngoài rừng, tổ chức cho đảng viên bám dân, bám đất, giữ vững sợi dây liên lạc giữa chiến khu và đồng bào bị địch dồn vào các khu tập trung. Với những đóng góp xuất sắc, ông được điều động làm Huyện ủy viên phụ trách các xã miền núi, trở thành nhịp cầu nối liền tình đoàn kết Kinh - Chăm - Thượng.

Lịch sử Phan Hòa không chỉ được viết bằng mực, mà còn bằng máu của những người anh hùng. Đồng chí Đặng Lá, phụ trách quân sự xã Thiện An, khi bị giặc bắt đã chịu đủ mọi hình thức tra tấn dã man nhưng nhất quyết không khai báo, khiến kẻ thù phải khiếp sợ và hèn hạ đem ông ra hành quyết tại sân tàu Hòa Đa. Đau xót nhưng đầy tự hào là hình ảnh đồng chí Ức Lũy. Trong một trận càn vào khu căn cứ năm 1949, dù bị bắn gãy đùi, ông vẫn không khuất phục trước họng súng quân thù và bị chúng sát hại dã man ngay tại chỗ. Hay như đồng chí Lư Hỗ, người giao liên tận tụy, đã ngã xuống khi đang làm nhiệm vụ tuần đường tại Mblang Daow, để lại niềm tiếc thương vô hạn cho đồng đội.

Sức mạnh của cuộc kháng chiến còn nằm ở những người mẹ, người chị thầm lặng – những thành trì bất khả xâm phạm. Mẹ Lư Thị Giót là một minh chứng cảm động; dù bị giặc tra khảo tàn nhẫn vì nghi ngờ nuôi giấu cán bộ, mẹ vẫn bảo vệ bí mật đến hơi thở cuối cùng. Những người mẹ như Nguyễn Thị Cải, Đào Thị Banh, Bá Thị Khanh Chớ đã biến nhà mình thành hầm bí mật, tiếp tế lương thực cho chiến khu bất chấp sự kềm kẹp gắt gao của đồn bốt giặc. Xúc động biết bao là phong trào “bảo vệ mùa màng”. Giữa vòng vây của địch, quân dân ta đã mưu trí huy động hàng trăm dân công, gánh hàng chục tấn lúa vượt rừng lội suối trong những đêm trăng sáng để đưa về kho dự trữ tại Đá Chồng, đảm bảo “hạt gạo kháng chiến” cho bộ đội suốt nhiều năm ròng.

Trải qua 9 năm “nếm mật nằm gai”, từ những khu tập trung ngột ngạt như Hậu Quách, đồng bào Phan Hòa đã kiên cường đấu tranh đòi tự do, đòi trở về làng cũ tăng gia sản xuất. Những chiến thắng dồn dập tại cầu sông Cạn, đồn Duồng, Lương Sơn... cùng với tin vui từ Điện Biên Phủ đã chính thức khép lại ách nô lệ. Chiến thắng năm 1954 là phần thưởng vô giá cho sự hy sinh của những người con ưu tú như Văn Quyền, Đặng Chế Hoa và biết bao liệt sĩ, mẹ Việt Nam anh hùng xã Phan Hòa. Tinh thần bất khuất của họ mãi là bản hùng ca vang vọng giữa đại ngàn Phan Lý, là hành trang quý báu cho các thế hệ mai sau.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn