Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

Sau chiến dịch Hòa Bình – tình yêu nơi hậu phương

Sau thắng lợi của Chiến dịch Hòa Bình 1951–1952, chiến dịch mà Võ Nguyên Giáp đánh giá là một chiến cuộc lớn đánh bại kế hoạch của Jean de Lattre de Tassigny, Trung đoàn 36 trở về Phú Thọ huấn luyện và củng cố lực lượng. Trong thời gian đóng quân tại Đoan Hùng, Tiểu đoàn 80 tạm có những ngày yên bình hiếm hoi sau nhiều tháng chiến đấu liên tục. Chính trong khoảng thời gian này, tác giả đã gặp Đinh Thị Nguyệt, một nữ công nhân trẻ của xí nghiệp dược sơ tán từ Hà Nội. Từ cuộc gặp gỡ tình cờ do đồ

Lai Châu07/03/2026Ban Biên tập tổng hợp3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Về cuộc chiến đấu đánh bại tướng Đờ Lát sau này Đại tướng Võ Nguyên Giáp có đánh giá:

1. Chiến dịch Hòa Bình phải tính cả mặt trận chủ lực và mặt trận đồng bằng vì có chỉ đạo thống nhất, cùng thời gian kế hoạch phối hợp chặt chẽ, sử dụng lực lượng chủ lực của Bộ lớn cùng mục đích đánh bại âm mưu địch (phá kế hoạch về đồng bằng và diệt chủ lực của ta), tạo thế lực mới giành thế chủ động chiến dịch, chủ động chiến lược một hướng (chiến trường Bắc Bộ).

Vì vậy, coi là “chiến dịch kép” hoặc đổi là chiến dịch Đông Xuân 1951-1952, gồm hai mặt trận (sau này ta dùng từ chiến cuộc), đây là chiến dịch lớn nhất từ trước đến nay trên các mặt trận so với chiến dịch Biên Giới.

- Chiến dịch dài ngày nhất: 3 tháng.

- Diệt nhiều sinh lực nhất: hơn 2 vạn.

- Giải phóng đất đai rộng nhất: 6.000 ki-lô-mét vuông, hơn 2 triệu dân.

2. Pháp hết hy vọng giành chiến thắng bằng quân sự.

3. Chiến dịch Đông Xuân 1951-1952 là biểu hiện tập trung của nghệ thuật chiến tranh nhân dân trong kháng chiến chống thực dân Pháp. Ta đã giành lại chủ động (dù lực lượng có hạn).

4. Cuộc đọ sức quyết liệt giữa quân dân ta và Đờ Lát bắt đầu từ Trung Du đã kết thúc với chiến dịch Hòa Bình.

5. Trận Hòa Bình là cuộc tập dượt lớn của bộ đội ta chuẩn bị cho trận Điện Biên Phủ sau này (địch hình thành tập đoàn cứ điểm từ Hòa Bình).

Sau chiến dịch Hòa Bình, Trung đoàn 36 về đóng quân luyện tập ở Phú Thọ. Tiểu đoàn 80 ở Bằng Luân, huyện Đoan Hùng. Có thời gian rỗi, Chí Nhân tâm sự với tôi:

- Gần “tam thập nhi lập” rồi, sao mà vẫn “phòng không”?

- Thời đi học, tuổi mười tám đôi mươi thơ mộng tôi chưa có một mối tình nào vì hoàn cảnh chưa cho phép. Vào đời, tôi lao vào cuộc chiến căng thẳng, không còn tâm trí nào để nghĩ đến việc khác. Tôi cũng không muốn ảnh hưởng đến người khác, thà để rảnh rang mà bay bổng – Tôi trả lời.

- Được rồi, tớ sẽ có cách. Nhân nói rồi cười!

Ít hôm sau, Nhân đi họp bên Trung đoàn về, mới về nhà đã bỏ lỡ, vừa nói vừa cười:

- Tần ơi! Chắc ăn rồi!

Tôi ngẩn người… Nhân giải thích:

- Trung đoàn sẽ tổ chức đoàn đi thăm “Anh nuôi” để các chàng ế vợ đi xem mặt.

Đơn vị chúng tôi ở gần một xí nghiệp dược có nhiều nữ công nhân trẻ nguyên là học sinh từ Hà Nội sơ tán lên đây. Ban chính trị, được sự nhất trí của Đảng ủy Trung đoàn, làm một kế hoạch như cho một một chiến dịch. Mưu kế là lấy danh nghĩa đơn vị đi thăm công đoàn là “anh đỡ đầu” của trung đoàn, tạo điều kiện cho năm chàng trai tuổi gần 30 xem mặt và tiếp xúc tự nhiên với các nàng do đồng chí bí thư chi bộ xí nghiệp đã sắp đặt sẵn (như vậy là một công đôi việc, lại có hợi cho cả đơn vị và cả xí nghiệp, đều giải quyết được công việc tế nhị của mình, thật quá hay!).

Riêng tôi không may. Tôi cùng hai anh đến gặp một nhóm được phân công mới đến, tôi đã để ý một cô nhưng đến khi giới thiệu thì cô ấy đã có chồng, còn các cô khác không có ai lọt vào mắt xanh cả. Tưởng đã thất vọng rồi. May sao khi ra chỗ tập trung, Chí Nhân chỉ cho tôi một em ra thắp dèn chuẩn bị cho sinh hoạt buổi tối. Tôi thấy em rất xinh. thật dễ thương, lại nhanh nhẹn, tháo vát. Mới nhìn thấy tôi đã ưng ngay. Nhưng tôi còn thắc mắc:

- Em còn trẻ quá, mới 17!

Nhân làm công tác tư tưởng:

- Thì cũng phải vài năm nữa, có thể phải đến ngày chiến thắng kia mà.

Thế là phải nghe chính trị viên thôi. Tôi lại lúng túng hỏi:

- Làm thế nào bây giờ? Cả đoàn sắp về rồi!

Nhân lại nói:

- Sao khi chiến đấu, thì cậu nhanh thế mà bây giờ thì… À, có cách rồi! Tối nay, các cô ra nhà bà Minh tập múa hát ở đấy. Bọn mình sẽ ra thăm bà Mình là người chị lớn của xí nghiệp, rất có uy tín với các cô. Mình làm khách xem các em vui chơi, xong bà Minh giữ cô ấy ở lại nói chuyện là ổn cả. Chỉ còn trông vào tài của cậu thôi.

Tôi bắt đầu biết tên em là Đinh Thị Nguyệt. Khi đến, tôi tránh chỗ đông ở “phòng khách”, cùng em ra đứng ở cửa bên. Tôi nhớ mãi cảm giác của giây phút đầu tiên đó, vì chưa khi nào đứng với một cô gái gần đến như thế. Tôi nhận thấy hương thơm đồng nội tỏa ra từ em. Trong tôi trào lên một tình cảm lâng lâng khó tả. Không biết đó có phải là tình yêu sét đánh không. Tôi chỉ biết trong đầu tôi đã in sâu một suy nghĩ: Không khi nào tôi chịu mất em, em sẽ là người bạn đời của tôi mãi mãi.

Lần đầu, Nguyệt chưa tỏ thái độ rõ ràng vì quá đột ngột. Nhưng với lòng tin đối với chị Minh và lòng tin yêu đối với tôi là một anh bộ đội, Nguyễn vẫn tỏ thái độ thân thiện. Sau này khi tâm sự với nhau, trả lời câu hỏi của Nguyệt:

- Vì sao anh yêu em, em không dứt ra được vì thương anh?

- Vì đồng cảm – Tôi chỉ trả lời gọn, không biết nói gì hơn. Tôi hỏi lại:

- Thế còn em?

- Lúc đầu em chỉ thấy tin anh. Đã có mấy người đặt vấn đề với em, em đều từ chối cả. Nhưng với anh, em không từ chối được!

Tôi gặp may, chỗ tiểu đoàn tôi đóng quân rất gần xí nghiệp, anh chị em trong xí nghiệp hay ra chơi. Tôi cũng có thời gian nhiều lần gần gũi chuyện trò với em. Khi được biết tôi tuy nói giọng Huế nhưng quê ở Hà Nội người ở Kim Liên, người ở Phương Liệt sát liền nhau, chúng tôi lại được thêm tình đồng hương. Sau một thời gian “tìm hiểu”, em đã đồng ý tôi nghỉ phép đi thăm bố mẹ em. Có lần em đã bằng lòng đi chơi với tôi ra thăm gia đình chú ở chợ Ngà…

Đến ngày trước khi đi chiến dịch Tây Bắc, tôi chỉ nói tôi đi chiến đấu, em đã tỏ ra rất lưu luyến, lo lắng cho tôi. Tôi cảm thấy thật hạnh phúc, từ nay tôi đã có người ở hậu phương mà nhớ. Tôi lớn tuổi hơn em nhiều, không bảnh trai. Tôi hiểu rằng em yêu tôi vì tôi đi chiến đấu vì dân vì nước. Tôi chỉ xứng đáng với em nếu tôi hoàn thành nhiệm vụ tốt. Tình cảm đó đã làm ấm lòng tôi và động viên tôi nhiều. Khi ở chiến trường gian khổ. Khi thấy các gia đình dân trong vùng địch còn nhiều đau khổ, tôi càng thông cảm, thấy hạnh phúc của mình gắn rất mật thiết với hạnh phúc chung. Làm gì để khỏi hổ thẹn với nhân dân ở hậu phương. Chỉ có những ý nghĩ thúc giục tôi xốc tới.

Xem lại các thư từ tôi gửi cho em hồi đó đều toát lên một tình cảm lãng mạn như vậy. Có lần tôi về thăm, có chờ đợi ở nhà chị Huỳnh Quang Đại, dược sĩ, chị đã hỏi tôi:

- Vì sao đã lâu rồi mà chưa cưới? Người ta bảo lấy vọ thì cưới liền tay…

- Tôi nghĩ khác – Tôi trả lời – Mình còn đi chiến đấu. Con người mình bây giờ đâu phải của mình nữa. Nếu có điều gì không may thì chỉ khổ người khác. Cứ để tình yêu lãng mạn thế đẹp hơn, cả hai thấy hạnh phúc trong cuộc sống hiện tại là hơn. Khi nào yên hàng hãng hay…

Chỉ ngày tôi từ biệt em để đi chiến dịch Điện Biên Phủ, tôi đã nói thật, cũng kho em biết kỳ này đánh rất to hy vọng ngày chiến thắng sắp đến rồi. Tôi cảm thấy tình cảm của em thật sâu đậm. Đêm trước hai người ngồi nói chuyện dưới ánh trắng rất khuya, mãi không ai muốn về nghỉ. Hôm sau trước khi lên đường, tôi đến chia tay, cảm thấy thật lưu luyến như không muốn rời nhau nữa. Chúng tôi lần đầu tiên, đã hẹn nhau ngày cưới sau ngày chiến thắng trở về và em không quên nhắc tôi; “Anh chú ý giữ sức khỏe, đừng quên nhiệm vụ, nhớ về với em!”.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
Sau chiến dịch Hòa Bình – tình yêu nơi hậu phương | Câu chuyện thời hoa lửa