Cựu chiến binh

Sau chiến tranh là cuộc sống

Chiến tranh đã lùi xa, nhưng phẩm chất kiên cường của người lính năm xưa vẫn tiếp tục được thể hiện trong đời sống hôm nay. Trở về với cuộc sống đời thường, nhiều cựu chiến binh ở Thái Nguyên không chọn dừng lại sau gian khó mà chủ động tìm hướng đi mới, nỗ lực phát triển kinh tế, vươn lên làm giàu chính đáng trên chính mảnh đất quê hương.

Thái Nguyên07/06/2026Hoàng Đức Hồng (Đoàn phường Bắc Kạn)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Sau chiến tranh là cuộc sống

Chúng tôi tìm đến căn nhà sàn khang trang của gia đình ông Nông Văn Thuật tại phường Bắc Kạn. Đón chúng tôi là một người đàn ông tóc bạc, gương mặt cương nghị và vóc người mảnh khảnh.

Ông Nông Văn Thuật sinh năm 1951, như bao thế hệ thanh niên thời chiến, ông lên đường nhập ngũ năm 1971 lúc vừa tròn 20 tuổi. Khi ấy, cuộc kháng chiến đang ở giai đoạn ác liệt, người thanh niên tên Thuật cầm súng bước vào những trận đánh đầu tiên tại Quảng Trị.

Ông nhớ lại: Ngay sau huấn luyện, tôi được điều thẳng vào chiến trường Quảng Trị để tham gia chiến đâu. Đó là những ngày tháng khốc liệt mà đến nay bản thân vẫn khó có thể diễn tả trọn vẹn. Ngày ấy tôi vừa lấy vợ, thế nên ban đầu cũng lo sợ, thương bố mẹ, thương người vợ trẻ ở nhà...

Nhưng giữa bom đạn và mất mát liên tiếp, cảm giác sợ hãi dần nhường chỗ cho sự quen thuộc với chiến trường. Người lính khi ấy chỉ còn tính thời gian bằng từng giờ chiến đấu.

Rời Quảng Trị năm 1974, ông tiếp tục tham gia chiến đấu tại Đà Nẵng. Năm 1975, ông có mặt trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.

Cựu chiến binh Nông Văn Thuật chăm sóc vườn cây ăn quả tại gia đình, tiếp tục phát triển kinh tế sau khi rời quân ngũ.Cựu chiến binh Nông Văn Thuật chăm sóc vườn cây ăn quả.

Đầu năm 1976, ông Thuật xuất ngũ trở về quê hương, bắt đầu cuộc sống mới bên người vợ thủy chung. Hậu quả chiến tranh để lại không nhỏ khi ông bị ảnh hưởng bởi chất độc hóa học, sức khỏe suy giảm. Chính vì vậy, ông luôn trăn trở tìm hướng đi mới để phát triển kinh tế, tạo nguồn thu ổn định thay vì chỉ dựa vào ruộng đồng.

Có sẵn đất đai của gia đình, ông Thuật tìm hiểu thực tế sản xuất tại địa phương, quan sát nhu cầu thị trường và lựa chọn cây trồng phù hợp. Nhận thấy cây mơ dễ trồng, phù hợp khí hậu, ít tốn công chăm sóc, ông bàn với vợ đưa giống cây này vào sản xuất.

Từ năm 1977, ông bắt đầu ươm những cây mơ đầu tiên. Do điều kiện kinh tế hạn hẹp, phải đến năm sau ông mới mở rộng diện tích trồng. Nhờ chăm sóc cẩn thận và nắm vững kỹ thuật, gần 200 cây mơ phát triển tốt, mỗi năm cho thu hoạch hơn 2 tấn quả. Nhiều năm liền, đây là nguồn thu chính của gia đình.

Tuy nhiên, khoảng năm 2005, giá mơ giảm mạnh, đầu ra khó khăn. Ông Thuật nhớ lại: Lúc ấy mơ chín rụng đầy gốc nhưng không có người thu mua, công sức coi như bị bỏ dở. Tôi tự động viên bản thân không bi quan hay nản trí.

Bởi lẽ, những ai từng tham gia kháng chiến sẽ hiểu, không có khó khăn, gian khổ nào như thời gian ấy; bản thân tôi trở về đã là một điều may mắn, vậy nên phải sống thật tốt và kiên cường hơn nữa.

Từ đó, gia đình ông chuyển hướng sang trồng cây hồng. Vừa làm vừa học hỏi kỹ thuật, từng bước cải tạo đất, chăm sóc vườn cây. Đến nay, vườn hồng rộng hơn 3.000m2 đã phát triển ổn định, cho thu nhập khoảng 200 triệu đồng/năm. Hiện ở tuổi 75, ông Thuật đã dần giao lại mô hình sản xuất cho con cháu tiếp nối.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn