Sau thắng lợi có ý nghĩa chiến lược của quân và dân ta trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968
Sau thắng lợi có ý nghĩa chiến lược của quân và dân ta trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968, đế quốc Mỹ buộc phải chuyển từ chiến lược “Chiến tranh cục bộ” sang chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”, vừa tiến hành các cuộc hành quân “bình định cấp tốc” ở miền Nam, vừa đánh phá ác liệt tuyến đường vận chuyển chiến lược của ta, ngăn chặn nguồn chi viện của hậu phương lớn miền Bắc cho các chiến trường. Trước sự phản công quyết liệt của địch, lực lượng vũ trang và lực lượng chính trị của ta bị tổn thất nặng nề; các đơn vị vũ trang bị đánh bật khỏi đô thị, vùng ven, vùng đồng bằng; một số phải rút qua bên kia biên giới hoặc về đứng chân ở Nam Quân khu 4. Trong lịch sử cuộc kháng chiến chống Mỹ, đây là giai đoạn cách mạng miền Nam đứng trước thử thách cực kỳ gay gắt. Song, Bộ Chính trị, Trung ương Đảng ta đã bình tĩnh tìm hiểu, lợi dụng và khoét sâu những sai lầm của địch trong bước chuyển chiến lược, chỉ đạo các đảng bộ miền Nam, lực lượng vũ trang và Nhân dân từng bước khôi phục lại thế và lực trên chiến trường, nắm lại quyền chủ động chiến lược; đồng thời, khẩn trương khôi phục kinh tế miền Bắc, tiếp tục chi viện sức người, sức của cho miền Nam, tập trung nâng cao một bước sức mạnh của lực lượng vũ trang, đặc biệt là nâng cao trình độ tác chiến hiệp đồng binh chủng của bộ đội chủ lực.
Tháng 1-1970, Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp Hội nghị lần thứ 18 (khóa III) nhận định: Tình hình sẽ diễn biến phức tạp ở Campuchia, đường hành lang vận chuyển chi viện cho Nam Bộ và một phần Khu 5 có thể bị cắt đứt, gây khó khăn cho cuộc kháng chiến của Nhân dân ta. Hội nghị cũng đề ra nhiệm vụ quốc tế là tăng cường chi viện cho cách mạng Lào, góp phần cùng quân và dân Lào đánh bại chiến lược “Chiến tranh đặc biệt tăng cường” của đế quốc Mỹ ở Lào. Đặc biệt, sau khi quân Mỹ và ngụy quân Sài Gòn mở cuộc tiến công xâm lược Campuchia, Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã ra Nghị quyết nêu rõ: “Mỹ và tay sai sẽ tiếp tục việc chuyển hướng chiến lược trên chiến trường miền Nam nước ta, từng bước rút một lực lượng lớn quân Mỹ, đồng thời để một bộ phận quân Mỹ, nhất là không quân và hậu cần làm chỗ dựa để thực hiện “Việt Nam hóa chiến tranh”. Trên cơ sở đánh giá chính xác âm mưu, quy luật hoạt động của địch trong năm 1969 và đầu năm 1970 trên chiến trường, Bộ Chính trị nhận định: Địch sẽ tiếp tục những hành động phiêu lưu quân sự mới trong thời gian tiếp theo, đồng thời dự đoán chính xác phương hướng tiến công chiến lược của chúng trong mùa khô 1970 - 1971 sẽ là tuyến vận tải chiến lược của ta ở Trung Lào, Hạ Lào và Đông Bắc Campuchia, thực hiện biện pháp được gọi là “Cuộc chiến tranh bóp nghẹt” nhằm ngăn chặn tận gốc con đường chi viện của ta cho chiến trường miền Nam. Về đối tượng tác chiến, Bộ Chính trị cũng cho rằng, trong khuôn khổ chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” thì trong các cuộc hành quân có tính chất phản công chiến lược của địch, lực lượng nòng cốt chủ yếu là ngụy quân Sài Gòn có sự chi viện mạnh về hỏa lực, phương tiện cơ động và một bộ phận quân Mỹ bảo đảm phía sau.
Thực tế diễn biến tình hình trong năm 1970 chứng tỏ Bộ chính trị, Quân ủy Trung ương đã bắt mạch đúng âm mưu và chủ trương chiến lược của địch. Đế quốc Mỹ đã bị thất bại nặng nề, buộc phải xuống thang từng bước, không thể duy trì cuộc chiến tranh xâm lược với quy mô lớn trong một thời gian dài. Tuy nhiên, do bản chất ngoan cố, nên mỗi bước xuống thang chiến tranh, địch lại tăng cường nỗ lực chính trị, quân sự và ngoại giao hòng giành thế mạnh trên chiến trường để tạo điều kiện “xuống thang” chiến tranh trên thế mạnh, giúp Mỹ rút ra trong danh dự. Chính vì vậy, Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương đã ra chỉ thị cho các lực lượng trên toàn tuyến vận chuyển chiến lược chuẩn bị tổ chức chiến trường, đặc biệt là hướng Đường 9, sẵn sàng đánh bại quân địch khi chúng liều lĩnh đánh ra vòng ngoài. Thực hiện chỉ thị của Quân ủy Trung ương, Bộ Tổng tư lệnh đã quyết định thành lập Binh đoàn 70, binh đoàn chiến lược đầu tiên của Quân đội ta, có nhiệm vụ sẵn sàng đánh địch khi chúng tiến công ra Nam Quân khu 4; đồng thời sẵn sàng phối hợp với các đơn vị tại chỗ thuộc B4, B5 và Đoàn vận tải chiến lược 559 đánh địch trên hướng Đường 9.
Đúng như dự đoán của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương, đầu năm 1971, cùng với việc tiếp tục đẩy mạnh chương trình bình định ở miền Nam Việt Nam, Mỹ và ngụy quyền Sài Gòn đã tăng cường chuẩn bị và tiến hành các cuộc hành quân quy mô lớn sang Lào và Campuchia bằng lực lượng quân đội tay sai mà nòng cốt là ngụy quân Sài Gòn có sự hỗ trợ của quân Mỹ, nhằm triệt phá tuyến hành lang vận chuyển và hậu phương chiến lược trực tiếp của ta. Mặc dù, trước khi tiến hành cuộc hành quân “Lam Sơn 719”, quân Mỹ và ngụy quân Sài Gòn đã tiến hành nghi binh trên cả ba hướng: Tây Nguyên, Đường 9 và Nam Quân khu 4, nhưng do ta nắm chắc được ý đồ chiến lược thực sự của địch là đánh phá tận gốc tuyến vận tải chiến lược, nên đã sớm xác định hướng tiến công chủ yếu sẽ là Đường 9 - Nam Lào và khẩn trương chuẩn bị khá toàn diện cho chiến dịch phản công quan trọng này.
Cuộc hành quân “Lam Sơn 719” đánh vào khu vực Đường 9 - Nam Lào là một trong những cuộc hành quân có quy mô lớn nhất của địch và cũng là sai lầm chiến lược của chúng trong quá trình thực hiện chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”. Trên cơ sở phân tích tình hình chung trên toàn chiến trường cũng như trên từng khu vực, Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương cho rằng, sai lầm của địch bắt nguồn từ bản chất ngoan cố, phiêu lưu, mạo hiểm, là hậu quả một chuỗi sai lầm chiến lược từ trước của Mỹ và nằm trong sai lầm của chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”. Những sai lầm đó là:
Thứ nhất, Mỹ và ngụy quyền Sài Gòn đã đánh giá sai khả năng của ta, cho rằng, sau Tết Mậu thân năm 1968, ở miền Nam, lực lượng ta đã suy yếu không đủ sức mở các cuộc tiến công lớn; mặt khác, đánh ra Đường 9, chủ lực ở miền Bắc khó có điều kiện tập trung và cơ động kịp thời đến khu vực tác chiến. Đặc biệt, địch đánh giá thấp sức chiến đấu của lực lượng tại chỗ, sức cơ động và khả năng đánh hiệp đồng binh chủng của lực lượng chủ lực ta.
Thứ hai, Mỹ và ngụy quyền Sài Gòn đánh giá quá cao sức mạnh của lực lượng tổng dự bị của ngụy quân Sài Gòn như các đơn vị dù, thủy quân lục chiến với sự chi viện về hỏa lực của không quân, pháo binh của Mỹ.
Thứ ba, Mỹ và ngụy quyền Sài Gòn mở cuộc hành quân vào một chiến trường mà ta đã có tổ chức chuẩn bị, có điều kiện để tiếp thu sự chi viện của miền Bắc và sử dụng lực lượng chủ lực với quy mô lớn.
Thứ tư, Mỹ và ngụy quyền Sài Gòn mở cuộc tiến công sang Lào bằng lực lượng lớn, đòi hỏi phải có thời gian chuẩn bị cả về dư luận, về lực lượng, phương tiện nên mất yếu tố bất ngờ, tạo điều kiện cho ta có thời gian chuẩn bị chiến dịch.
Từ nhận định đó, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương đã đánh giá đúng tầm quan trọng của chiến dịch phản công của ta và coi việc địch đưa lực lượng ra khu vực Đường 9 - Nam Lào là một cơ hội hết sức thuận lợi để ta tiêu diệt chúng. Do vậy, chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào thực sự “là một trong những trận có ý nghĩa quyết định về chiến lược, không những để giữ vững tuyến vận chuyển chiến lược mà còn nhằm tiêu diệt nhiều đơn vị dự bị chiến lược của địch trong lúc tinh thần của chúng đang suy sụp, tạo điều kiện đánh bại một bước quan trọng âm mưu “Việt Nam hóa chiến tranh” của địch, đẩy mạnh cuộc kháng chiến tiến lên mạnh mẽ, giải phóng miền Nam ruột thịt, bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa, làm tròn nghĩa vụ quốc tế vẻ vang”. Vì vậy, “Quyết tâm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta là: Tập trung lực lượng, kiên quyết tiêu diệt thật nhiều sinh lực, phương tiện chiến tranh của Mỹ, ngụy, bảo vệ bằng được con đường chi viện cho tiền tuyến, phối hợp với các chiến trường, với Nhân dân các nước Lào và Campuchia anh em, đập tan hành động phiêu lưu quân sự của đế quốc Mỹ và tay sai”.


