Anh hùng Lực lượng vũ trang

SƠN TON – NGƯỜI GIỮ NGỌN LỬA KHÁNG CHIẾN GIỮA PHUM SÓC

SƠN TON – NGƯỜI GIỮ NGỌN LỬA KHÁNG CHIẾN GIỮA PHUM SÓC Sinh năm 1933 trong một gia đình nghèo của đồng bào Khơ Me ở Trà Vinh, Sơn Ton từ một cậu bé đi ở đợ đã trở thành người chiến sĩ kiên cường của miền Tây Nam Bộ. Trong những năm 1952-1953, khi phong trào du kích gặp vô vàn khó khăn, có thời điểm chỉ còn ông và một cán bộ xã đội tiếp tục bám địa bàn, chiến đấu và gây dựng lại cơ sở. Từ đó, Sơn Ton góp phần tổ chức 15 trung đội dân quân, 15 tiểu đội du kích, vận động thanh niên Khơ Me cầm súng bảo vệ quê hương. Ngày 31-8-1955, ông được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.

TP. Hồ Chí Minh18/08/2026Xã Thạnh Mỹ Tây (Đoàn xã Thạnh Mỹ Tây)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Có những người anh hùng bước vào lịch sử từ những trận đánh vang dội. Nhưng cũng có những người làm nên chiến công bằng một hành trình âm thầm hơn: giữ lấy niềm tin của nhân dân giữa những năm tháng phong trào cách mạng tưởng như bị dập tắt.

Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Sơn Ton là một người như thế.

Sơn Ton sinh năm 1933, là người dân tộc Khơ Me, quê ở xã Lưu Nguyệt Anh, huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh. Tuổi thơ của ông gắn với nghèo khó. Khi Cách mạng Tháng Tám thành công, Sơn Ton mới 12 tuổi và vẫn đang phải đi ở đợ. Suốt ngày làm lụng vất vả cho nhà chủ, nhưng người thiếu niên ấy vẫn tìm cách tham gia công tác cách mạng, từ canh gác đến phá đường ngăn bước quân địch.

Năm 1949, Sơn Ton tham gia du kích xã. Từ đây, cuộc đời người thanh niên Khơ Me gắn chặt với cuộc kháng chiến.

Công việc của ông không chỉ là cầm súng.

Trong vùng đồng bào Khơ Me, địch thường xuyên càn quét, khủng bố và tìm cách gây chia rẽ giữa các dân tộc. Cơ sở cách mạng ban đầu còn yếu, việc vận động nhân dân vô cùng khó khăn. Sơn Ton kiên trì đi từng nơi, gặp từng người, giải thích âm mưu của địch và vận động thanh niên đứng lên bảo vệ quê hương.

Nhưng để đồng bào tin, lời nói thôi chưa đủ.

Sơn Ton tự mình làm trước.

Ông tự tay gài mìn, trực tiếp nổ súng đánh địch để chứng minh rằng quân xâm lược hoàn toàn có thể bị đánh bại. Từ những hành động quả cảm ấy, niềm tin dần được gây dựng. Những cơ sở cách mạng hình thành, các tổ du kích xuất hiện và phong trào kháng chiến trong vùng đồng bào Khơ Me từng bước phát triển.

Có lần, khi xã đang tổ chức hội nghị có cán bộ tỉnh về dự, quân địch bất ngờ bao vây tiến công. Trong tình thế nguy cấp, Sơn Ton một mình ở lại chiến đấu, bắn chặn quân địch, tạo thời gian để cán bộ dự hội nghị rút lui an toàn.

Nhưng thử thách khắc nghiệt nhất đến vào những năm 1952-1953.

Địch liên tục huy động từ hai đến ba tiểu đoàn, có máy bay và pháo binh yểm trợ, càn quét dữ dội. Đồn bốt mọc lên khắp nơi. Lực lượng du kích bị tổn thất đến mức có thời điểm gần như tan rã.

Cuối cùng, chỉ còn Sơn Ton và một cán bộ xã đội tiếp tục cầm súng.

Hai con người giữa một vùng bị địch khống chế.

Suốt hai năm, họ vừa bảo vệ vũ khí, vừa gây dựng lại cơ sở, vừa tuyên truyền vận động nhân dân, vừa trực tiếp chiến đấu.

Cuối năm 1952, khi quân địch đổ bộ vào xã, Sơn Ton tổ chức gài lựu đạn rồi tìm cách dụ chúng tiến vào trận địa. Trận đánh thắng lợi, nhiều tên địch bị tiêu diệt.

Đối với Sơn Ton, ý nghĩa lớn nhất của trận đánh không chỉ nằm ở số quân địch bị loại khỏi vòng chiến đấu.

Điều quan trọng là nhân dân lại tin rằng phong trào vẫn còn.

Từ ngọn lửa tưởng như chỉ còn leo lét ấy, lực lượng cách mạng dần được gây dựng trở lại. Sơn Ton tổ chức được 15 trung đội dân quân và 15 tiểu đội du kích, thường xuyên luyện tập, sẵn sàng chiến đấu.

Năm 1953, ông được điều lên đội du kích tập trung của huyện. Đến năm 1954, khi lực lượng ta tiến sâu vào vùng địch tạm chiếm, Sơn Ton lại nhận một nhiệm vụ đặc biệt: dẫn tổ vũ trang tuyên truyền đi xây dựng cơ sở.

Mỗi khi đến một sóc mới, dù phần lớn đồng đội trong tổ là người Việt, Sơn Ton luôn xung phong đi vào trước, dùng tiếng nói và uy tín của mình để vận động đồng bào Khơ Me.

Gan dạ hơn, có lần ông còn dựa vào cơ sở quần chúng để đến tận bốt địch tuyên truyền, vận động binh lính quay súng trở về với nhân dân.

Với những kẻ ngoan cố, lực lượng vũ trang phối hợp cùng dân quân tiến công hoặc uy hiếp.

Chỉ trong 7 tháng hoạt động, theo tư liệu được cung cấp, tổ vũ trang tuyên truyền đã tiêu diệt 67 tên địch, bắt sống 100 tên, thu 43 khẩu súng, vận động nhiều binh lính rời hàng ngũ đối phương và động viên 50 thanh niên tòng quân.

Từ một cậu bé Khơ Me nghèo khó phải đi ở đợ, Sơn Ton đã trở thành một người cán bộ có uy tín với đồng đội và nhân dân. Ông không chỉ biết chiến đấu mà còn biết gây dựng lực lượng từ nhân dân, đoàn kết đồng bào và giữ cho phong trào cách mạng tồn tại ngay trong những thời điểm gian nan nhất.

Ông được tặng Huân chương Chiến công hạng Nhì, bốn lần được huyện, tỉnh và Miền khen thưởng.

Ngày 31-8-1955, Sơn Ton được Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tặng thưởng Huân chương Quân công hạng Ba và danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.

Có lẽ chiến công đặc biệt nhất của Sơn Ton không chỉ nằm ở những trận đánh.

Đó là trong những ngày đồn bốt giăng kín, lực lượng du kích gần như không còn, ông vẫn không rời quê hương, không buông súng và không để ngọn lửa kháng chiến trong những phum sóc bị dập tắt.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn