Bài viết

Sống anh hùng, chết vẻ vang, muôn đời ơn nhớ

Phạm Phương Uyên

22/08/2026phường Đồ Sơn (phường Đồ Sơn)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Ngày 6 tháng giêng năm Canh Tý (năm 40) Trưng Trắc cho hội quân ở bãi Trường Sa bên cửa sông Hát làm lễ tế cờ:

Một xin rửa sạch quốc thù,

Hai xin nối lại nghiệp xưa họ Hùng.

Ba kẻo oan ức lòng chồng,

Bốn xin vẹn vận sở công lênh này.

(Trích Thiên Nam ngữ lục diễn ca)

Bà Trưng Trắc bước lên đàn làm lễ tế cáo trời đất, xin tổ tiên và chư vị thần linh phù hộ: “Xét như nước ta, từ thuở trước đều có các bậc anh minh đời đời sáng nghiệp, là đất nước nhân nghĩa, có giáo hóa nên dân chúng yên ổn, vui đời làm lụng chuyên cần, chẳng biết đến binh đao.

Nay Tô Định là loài dê chó, hống hách lộng quyền, tàn bạo, ức hiếp, ngược đãi dân ta khiến đất trời, thần linh, người người đều căm giận. Con là cháu xa Hùng Vương, nhắc đến cảnh dân tình là sa nước mắt; hôm nay, đau lòng vì nước, dựng nghĩa trừ kẻ hung tàn, bạo ngược, cúi xin chư vị thần linh về đàn tế chứng giám cho.

Con nguyện dấy binh dẹp giặc cứu nước, cứu dân thoát khỏi vòng nước lửa, lầm than; không phụ lòng của trời cao, không phụ vẻ linh thiêng của tông miếu. Xin các vị tiên tổ anh linh hô mây, gọi gió, dồn âm binh hàng ngàn hàng vạn đội phù giúp đánh giặc”

Sau đó bà Trưng Trắc phát lệnh dấy binh khởi nghĩa, truyền hịch kêu gọi các quận huyện cùng nổi dậy đánh đuổi quân xâm lược, giành lại độc lập cho đất nước. Bài hịch viết rằng: “Kẻ đại gian ác từ lâu vốn lòng độc địa. Người có đức có nhân thường vẫn nuôi chí tiễu trừ. Mảnh hịch tre ruổi ngựa từ đêm, ba quân chấn động.

Nước ta dựng nền thực từ thuở vua Hùng vỗ trị, khi ấy quan dân vui vẻ, mọi người êm ấm nhàn hạ, mưa thuận gió hòa, một thân lúa thẩy đều hai bông. Đời đời nối tiếp, ngàn thu lưu truyền. Đến đời An Dương Vương, qua đời Triệu Vũ Đế, chẳng may đức suy, gặp phải tai ách. Bọn Hi Tải, Chu Chương, Ngụy Lang thay nhau làm quận thú.

Đám Đặng Nhượng, Tích Quang, Đỗ Mục nối tiếp làm châu mục. Dẫu tham lam, liêm khiết không giống nhau, nhưng chưa từng có kẻ nào bạo ngược, hà khắc quá lắm. Tới nay yêu nghiệt họ Tô tham tàn ngang ngược, giết hại sinh linh, coi sừng tê, ngà voi làm quý. Khinh miệt hiền tài, lấy giống chó loài ngựa làm trọng.

Khai mỏ vàng, khiến dân rét thấu xương, mặt vàng, da nứt. Mò ngọc châu, để người lặn vực thẳm, mò ngọc trong mồm rồng ngậm, trăm kẻ đi, một người về. Thuế má nặng nề phải nghiêng bồ vét bịch. Hình pháp phiền phức liên lụy từng nhà, từng xóm. Dân không sống được yên, vật phải dời chỗ ở!

Ta vốn dòng dõi hoàng tộc, con cháu Hùng tướng, vì nghĩa trừ hại. Bọn các ngươi đều có trí khôn, lại cùng tiên tổ, thù nước phải báo. Hãy kề vai sát cánh mà giương cây cung mạnh, quét sạch bọn ngoại bang, lấy hết nước sông Thiên Hà mà rửa binh khí. Cơ nghiệp hùng vĩ do đó mà được tái tạo, nhân dân ly tán được yên vui.

Bảo vệ xã tắc, gối đầu trên giáo mác, chính là lúc này đây. Hãy lập công danh để ghi vào sử sách, như thế chẳng tốt đẹp hay sao? Thảng hoặc kẻ nào còn hồ nghi, do dự thì xem hịch này sẽ được sáng tỏ. Các ngươi cần phải cố gắng lên!” (Theo Thiên Nam vân lục). Tương truyền người soạn bài hịch này chính là Hoàng Cống. 

Từ Mê Linh, nghĩa quân chia thành các đội tiến đánh hàng loạt thành lũy, đồn trại của giặc; sử chép: “Các quận Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố đều hưởng ứng, lấy được 65 thành ở Lĩnh Nam” (Đại Việt sử ký toàn thư). 

Sau thắng lợi, bà Trưng Trắc lên ngôi vua (Trưng Vương), phong tước, ban thưởng cho những người có công; Hoàng Cống được phong làm Hùng tướng công, được ban đất làm thực ấp ở Thủy Trung châu (còn gọi là Kẻ Bạch, sau gọi là Bạch Trữ) thuộc huyện Chu Diên, lại cho đón gia quyến của ông về đây lập nghiệp; dân làng Bạch Trữ cũng được chuẩn miễn thuế khóa, phu dịch.

Chuyện về vị quân sư ít người biết của Hai Bà Trưng

Đình làng Bạch Trữ (Hình minh họa)

Năm Nhâm Dần (42), sau thời gian chuẩn bị lực lượng, vua Hán sai Mã Viện làm tướng dẫn quân sang đánh báo thù, mục đích tái lập ách đô hộ của chúng. Nhiều trận giao tranh ác liệt đã xảy ra, nhưng thế giặc mạnh, chúng vẫn tiến sâu vào nước ta, một trong những trận đánh lớn xảy ra ở Lãng Bạc (nay thuộc huyện Tiên Du, Bắc Ninh).

Hoàng Cống thấy tình thế bất lợi đã dẫn đội quân của mình đánh thẳng, thọc sâu vào doanh trại giặc khiến chúng bất ngờ, lúng túng đối phó, nhờ đó Trưng Vương có thời gian rút đại quân về xây dựng phòng tuyến ở Cấm Khê.

Tiếp sau đó là trận đánh ở Cấm Khê, quân ta thất bại, Hai Bà Trưng và nhiều tướng lĩnh hy sinh tại đây; còn Hoàng Cống từ trận Lãng Bạc, ông đem lực lượng còn lại rút về đất phong của mình ở Bạch Trữ (nay thuộc xã Tiến Thắng, huyện Mê Linh, Hà Nội) tiếp tục chiến đấu chống giặc.

Tương quan lực lượng quá chênh lệch nên trong một trận huyết chiến, Hoàng Cống cùng một số tướng sĩ của mình đã tử trận, theo truyền tụng dân gian thì đó là ngày 11 tháng Chạp năm Qúy Mão (43), có thuyết nói là năm (47). Đến tận ngày nay, hàng năm vào ngày này, người dân làng Bạch Trữ lại tổ chức lễ hội kỷ niệm ngày giỗ trận tại bãi Đồng Số, xưa là nơi Hoàng Cống luyện quân và cũng là nơi diễn ra trận chiến đấu cuối cùng của ông. 

Nhớ ơn vị tướng tài, người quân sư mưu lược có nhiều đóng góp vào sự nghiệp đánh giặc cứu nước, người dân Bạch Trữ đã lập đền thờ Hoàng Cống. Đến giai đoạn độc lập, tự chủ lâu dài, khi mà tín ngưỡng thờ Thành hoàng phát triển và phổ biến rộng rãi đến các làng quê, người dân đã tôn Hoàng Cống là Thành hoàng làng; các triều đại có sắc phong Hoàng Cống là Phúc thần, quân sư Cống Sơn đại vương...

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn