Khác

SỐNG, CHIẾN ĐẤU GIỮA LÒNG ĐỊCH

Cuối tháng 8 năm 1969, trong chiến dịch ác liệt tại Cánh Đồng Chum, một đội công tác đặc biệt gồm 10 cán bộ Pa-thét Lào, lực lượng Trung lập yêu nước và chuyên gia quân tình nguyện Việt Nam được giao nhiệm vụ bám dân, bám địch, hoạt động hoàn toàn tự lực giữa vòng vây. Không có tiếp tế, không liên lạc, họ phải gặt lúa ban đêm dưới làn đạn địch, dùng mũ sắt giã gạo để duy trì sự sống, đồng thời cải trang thâm nhập sân bay địch làm công tác binh vận, vận động du kích bị gom trốn ra mang theo vũ kh

Lai Châu02/03/2026Ban Biên tập tổng hợp3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Ngày đó vào khoảng cuối tháng 8 năm 1969, tiết trời đã bước vào mùa khô ở Lào. Trên cao nguyên Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, xen kẽ giữa những dãy đồi thông là một thảm lúa vàng trĩu bông hứa hẹn một mùa bội thu. Bản làng các dân tộc Lào anh em vốn yên vui thanh bình thì nay hoang tàn đổ nát sau nhiều đợt oanh kích hủy diệt của địch, dân bản phải rời bỏ vào rừng sâu ẩn náu.


Giữa lúc đó, địch huy động một lực lượng lớn chưa từng có bao gồm các sắc lính: quân phái hữu, lực lượng Vàng Pao của quân khu 2 (ngụy Lào), một số đơn vị chiến đấu Thái Lan, dưới sự chi viện tối đa của không quân Mỹ, tiến hành mở chiến dịch "Cù kiệt" điên cuồng đánh phá nhằm chiếm lại cao nguyên Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng.


Trước sức tấn công ồ ạt của địch, Quân khu (lực lượng vũ trang Pa-thét Lào) đã quyết định đưa toàn bộ cơ quan hậu phương cùng một số dân Xiêng Khoảng dời về phía Bản Ban - Noọng Hét để bảo đảm an toàn. Còn lại các đơn vị vũ trang được tổ chức gọn nhẹ phân tán bám đánh địch từng nơi, từng chỗ, phù hợp với nhiệm vụ phương châm tác chiến lúc bấy giờ.


Trong số các đơn vị nói trên, Quân khu chọn một số cán bộ, chiến sĩ ưu tú thuộc phẤn Đội trinh sát, công binh và bộ binh, tất cả là 10 người, chỉ định ban chỉ huy: đồng chí Bun Thoong - Đại đội trưởng lực lượng Pa-thét Lào; Trung úy Xi Lửa - thuộc lực lượng Trung lập yêu nước cùng Đại tá Đươn và tôi - chuyên gia trinh sát của Quân khu tổ chức thành một đội công tác có nhiệm vụ bám dân, bám địch, bám địa bàn hoạt động nhỏ lẻ, tạo điều kiện khi đại quân tiến vào phản công. Trước khi lên đường, đồng chí Khểm Phon thay mặt Quân khu căn dặn thêm: "Nhiệm vụ của các đồng chí rất quan trọng và nặng nề vì từ giờ phút này các đồng chí không có tiếp tế, không có điện đài liên lạc với Quân khu. Mọi sinh hoạt, hoạt động của đội phải tự lo lấy hết. Chúc các đồng chí hoàn thành nhiệm vụ xuất sắc!".


Tối hôm đó, ba chúng tôi cùng nhau bàn bạc phương hướng, phương thức hoạt động sao cho thích hợp, có hiệu quả và đều đi đến thống nhất: Trước tiên phải giải quyết được công tác hậu cần vì "có thực mới vực được đạo", vì không thể trông chờ vào sự tiếp tế của trên. Thứ hai là muốn hoạt động được, bằng mọi giá phải móc nối được với cơ sở bằng cách tổ chức xâm nhập vào khu vực sân bay Cánh Đồng Chum liên lạc với dân nắm tình hình địch, tình hình dân rồi vận động bà con Xiêng Khoảng còn kẹt lại trong đó đấu tranh chống gom dân về Viêng Chăn.


Để giải quyết vấn đề lương thực hàng ngày, chúng tôi nhất trí chỉ còn cách tổ chức thu lượm, tận dụng những trà lúa chín rũ trên khắp cánh đồng; tìm kho tàng hậu cần của Quân khu còn lại trong rừng, lấy đó để nuôi sống đơn vị trong suốt thời gian hoạt động. Tuy vậy, việc thực hiện cũng không phải dễ dàng, không thể tự do gặt hái bình thường, vì trên các cao điểm xung quanh địch đều đóng chốt phong tỏa, chỉ cần thấy có bóng người dưới cánh đồng là chúng bắn thả sức như đổ đạn. Bởi vậy, để có gạo ăn hàng ngày, đêm đêm, từng tốp anh em tiếp cận ruộng lúa, bố trí cảnh giới như một trận đánh bảo đảm an toàn cho số anh em thu lượm. Cũng có lần đang gặt thì đụng độ với bọn địch đi tuần phải nổ súng và thương vong đã xảy ra. Gặt được lúa rồi làm ra thành hạt gạo cũng vô cùng khó khăn vất vả, vì sau các đợt oanh tạc bắn phá, các làng bản nhà cửa cháy trụi, mọi dụng cụ để làm ra hạt gạo cũng cháy hẽt. Anh em phải dùng những chiếc mũ sắt làm cối.


Muốn thực hiện được nhiệm vụ bám dân, đêm nào chúng tôi cũng tổ chức một tổ thâm nhập vào sân bay Cánh Đồng Chum, để theo dõi và móc nối với cơ sở. Xung quanh căn cứ sân bay, địch gom số dân càn quét được, lập ra những quán ăn, quán rượu phục vụ bọn lính Thái Lan, lính phái Hữu; đồng thời còn có tác dụng làm hàng rào che chắn cho chúng khi bị quân ta tấn công. Lợi dụng điều đó, anh em trong đội cải trang như binh lính địch, đột nhập trà trộn vào khu dân, bắt liên lạc với cơ sở. Công việc này được trung úy Xi Lửa đảm nhiệm, vì cậu ta rất am hiểu mọi sinh hoạt của quân phái Hữu. Qua khai thác cơ sở được biết, anh em du kích Mường Pẹc bị bắt gom cùng gia đình, địch đã tổ chức thành một Tiểu đoàn chiến đấu (BV56) được trang bị vũ khí đầy đủ, đóng tại sân bay Cánh Đồng Chum.


Chúng tôi quyết định làm công tác binh vận, vận động số anh em này tìm cách cùng với gia đình trốn ra khu căn cứ của đội. Kết quả đợt đầu có ba người ở Bản Lạt tìm ra, mang theo ba khẩu súng Ga-răng (súng trường). Anh em cho biết, bà con trong đó sống rất cực khổ, rất mong bộ đội về giải phóng, ai cũng muốn thoát khỏi cuộc sống kìm kẹp, nhất là chị em phụ nữ luôn bị chúng quấy rầy, nhũng nhiễu...


Phát huy kết quả thắng lợi bước đầu và sự mong mỏi, nguyện vọng của bà con, chúng tôi tăng cường các tổ phân ra nhiều mũi xâm nhập vào dân bày cách cho bà con trốn ra khu căn cứ. Ưu tiên số anh em du kích ra trước rồi đến cán bộ chính quyền địa phương, chị em phụ nữ, ông già và trẻ em lần lượt ra sau.


Sau khi đã có chủ trương cụ thể, đêm nào chúng tôi cũng vào liên lạc với cơ sở đưa những thành phần, đối tượng nói trên lần lượt ra khu căn cứ của đội. Thật bất ngờ, chưa đầy một tháng quân số của đội đã lên tới hơn một trăm người, trong đó một phần tư là phụ nữ. Còn số anh em thuộc tiểu đoàn địch mới tổ chức trốn ra đều mang theo vũ khí như M16, Ga-răng, M79 và có cả súng cối 60 ly. Trước tình hình đó, tôi bàn với đồng chí Bun Thoong và Xi Lửa: "Chúng ta có người, có vũ khí nên tổ chức thành đơn vị chiến đấu". Thế là biên chế thành hai trung đội và một phẤn Đội hỏa lực. Số phụ nữ tổ chức thành tổ hậu cần, chuyên lo công việc tìm kiếm lương Ihực, thực phẩm bảo đảm sinh hoạt cho đơn vị hàng ngày. Tổ này do chị Bun Mi, cán bộ phụ nữ xã trước đây phụ trách. Từ đó sinh hoạt ăn uống hàng ngày của chúng tôi có bàn tay của chị em nên tươm tất hơn.


Có lực lượng, có tổ chức, có trang bị không kém gì các phẤn Đội bộ binh, chúng tôi bàn với nhau áp dụng rộng rãi phương thức đánh nhỏ như phục kích, gài mìn trên các trục đường địch thường lui tới, nên cũng hạn chế sự đi lại của chúng, do đó khu căn cứ của đội cũng không còn bị o ép như trước nữa.


Giữa lúc này lại nảy sinh một khó khăn phức tạp mới là làm sao có đủ số lương thực cho hơn một trăm người ăn hàng ngày. Lúa trên cánh đồng thì không thiếu song đã quá ngày nên chín rục xuống ruộng. Riêng tại khu vực Bản Sồm, Bản Sữa còn nguyên một cánh đồng lúa chín có thể thu lượm được, nhưng lại bị một bộ phận địch chốt giữ ngay trên một quả đồi gần đó thường xuyên khống chế.


Chúng tôi họp bàn cùng anh em làm sao thu hoạch được số lúa này thì ít nhất cũng cung cấp lương thực cho toàn đội được nửa tháng. Có ý kiến đưa ra là: Tổ chức tập kích vị trí địch trên đồi rồi chiếm giữ toàn bộ khu vực Bản Sồm, Bản Sữa. Nhưng bàn đi tính lại vẫn chưa ngã ngũ. Lực lượng ta là du kích, vũ khí trang bị thô sơ mà địch lại phòng ngự trong công sự vững chắc thì đánh làm sao nổi. Cuối cùng đồng chí Khăm Sẻn đề nghị bí mật mang một lượng thuốc nổ khoảng 20kg áp sát cao điểm phát hỏa để uy hiếp địch. Mọi người nhất trí.


Đêm 16 tháng 11 năm 1969, một tổ do đồng chí Khăm Đỏn làm chỉ huy cùng ba chiến sĩ bí mật chuyển lượng thuốc nổ lên đồi, áp sát công sự địch, ròng dây xuống chân đồi dùng phương pháp điểm hỏa bằng điện. Đúng 12 giờ đêm hôm đó, một tiếng nổ xé trời rồi không gian trở nên im ắng lạnh lùng. Không thấy địch có phản ứng gì dù chỉ là một phát súng nhỏ.


Kết quả thật không ngờ, sáng ra kiểm tra, địch đã bỏ chạy hết. Cũng từ hôm đó, chúng tôi đàng hoàng thu hái lúa giữa ban ngày.

Tình hình chiến sự ngày càng phát triển có lợi cho ta. Tiếng súng phản công của bộ đội Lào và quân tình nguyện Việt Nam ngày càng gần. Địch đã phải rút bỏ một số nơi, co cụm lại từng điểm, mọi sự liên lạc chúng phải dùng trực thăng. Tiếng súng phản công của các cánh quân ta vang lên ngay trong trung tâm Cánh Đồng Chum. Lợi dụng lúc này, chúng tôi đẩy mạnh công tác binh địch vận, giúp đỡ và tổ chức cho bà con trong sân bay trở lại quê hương bản làng, xóa sổ hoàn toàn BV56 (tiểu đoàn địch mới thành lập) mà không mất một viên đạn nào. Chúng tôi còn tiếp tục tổ chức lại tổ anh em du kích, khôi phục lại lực lượng dân quân của từng bản làng trước đây, ổn định đời sống cho nhân dân. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ, đội công tác chúng tôi giải tán về đơn vị cũ.


Tuy thời gian sát cánh bên nhau chiến đấu trong một hòan cảnh cực kỳ khó khăn gian khổ nhưng đã để lại trong tôi biết bao kỷ niệm thật sâu sắc khó quên. Một mối tình đoàn kết đặc biệt giữa hai dân tộc Việt - Lào, tình bạn chiến đấu chung một chiến hào giữa các lực lượng vũ trang Pa-thét Lào, lực lượng Trung lập yêu nước Lào và những cán bộ, chiến sĩ chuyên gia quân tình nguyện Việt Nam.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
SỐNG, CHIẾN ĐẤU GIỮA LÒNG ĐỊCH | Câu chuyện thời hoa lửa