Sống mãi cùng ký ức một thời hoa lửa
Cựu binh Nguyễn Văn Thiềng (hiện trú tại phường Hà Lầm) là chiến sĩ Tiểu đoàn 386, Binh đoàn Than khi 22 tuổi. Ông cầm súng chiến đấu trên chiến trường trong 2 năm, tham gia 8 trận đánh càn và đánh đồn, sau đó bị thương và bị địch bắt. Năm 1973, ông được trao trả tù binh và phục viên.
Ông Thiềng kể, ngày đó để được nhập ngũ, tôi viết đơn tình nguyện bằng máu, rồi trốn lãnh đạo phòng kế toán của Công ty Vật liệu kiến thiết Quảng Ninh (nay không còn), nơi tôi công tác để đi nộp đơn và khám tuyển. Thế hệ chúng tôi say mê những bài hát thúc giục ra chiến trường, như: “Bài ca may áo”, “Đường cày đảm đang”, “Trên đường tiếp vận”, “Quảng Bình quê ta ơi", “Bài ca săn máy bay”... Tôi rất thuộc những câu hát “Rừng dừa mượt mà đang in những dấu chân ta. Người đi săn không săn chim chóc trong rừng. Mà đi săn bao chim sắt trên trời hòng bắn giết dân ta. Trông lên không gian, súng ta lăm lăm trong tay. Ta giữ cho bầu trời xanh tươi mãi mãi. Xanh tươi mãi mãi những chiều mây bay… Những giai điệu ấy hào hùng, thấm đẫm trong thế hệ chúng tôi nên khi có cơ hội là tôi xin tòng quân ngay.
Sau khi huấn luyện tại Nho Quan (Ninh Bình), ông Thiềng và đồng đội hành quân thẳng vào chiến trường miền Nam, hội quân với lực lượng du kích Long An, Mỹ Tho để đánh đồn và chống càn. Trận đầu tiên của tôi ở Tân Trụ (Long An), ông Thiềng kể, nhìn thấy lính Mỹ cao lớn gấp 2 mình, bặm trợn, trên tay, trên người toàn súng đạn tôi không khỏi e sợ. Nhưng du kích địa phương của mình “cứng” lắm, trước đó đã rèn dạy chúng tôi, trong khi đánh cũng yểm trợ nên chúng tôi bắt kịp đồng đội để chiến đấu. Rồi khi có những tên lính Mỹ trúng đạn gục xuống thì tinh thần chúng tôi cao hơn hẳn, kiên dũng đánh giáp lá cà…
Long An, Mỹ Tho những năm 1968, 1969 là địa bàn đánh du kích của ta. Người dân ở đây bao bọc chở che chiến sĩ, nhờ vậy mà ta liên tục tiêu hao được lực lượng địch. Để áp chế, lính Mỹ thường tổ chức những trận càn vào tận thôn ấp. Khi đó chúng dồn quân lực mạnh với máy bay, xe tăng và lính bộ. Có những trận càn, nhiều chiến sĩ ta hy sinh, bị thương hoặc bị bắt. Trận đánh càn tại Mỹ Tho vào tháng 11/1969, một đồng đội của tôi trúng đạn gục ngay trên vai tôi, còn tôi bị địch bắt. Trong 2 năm sau đó, chúng tôi thực hiện nhiệm vụ chống chiêu hồi trong các khu giam giữ của địch cho đến năm 1973 được trao trả tù binh.
Trở về đời thường, cựu binh Nguyễn Văn Thiềng mang trên cơ thể nhiều vết thương và di chứng chất độc da cam nặng nề. Vợ ông, 6 lần sinh nở mà chỉ mang được 2 con về nhà. Rồi thì một đứa mất khi còn trẻ, đứa còn lại thần kinh không bình thường. Nỗi đau là vậy, nhưng vượt lên tất cả, ông vẫn tiếp tục phát huy tinh thần anh Bộ đội Cụ Hồ, tiên phong trong mặt trận lao động sản xuất cũng như công tác xã hội. Ông khẳng định, chính những ngày tháng xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước ấy đã cho tôi động lực, sức mạnh, bản lĩnh, là niềm tự hào của một người thợ Vùng mỏ và người con đất Việt.



