Cựu chiến binh

Sống mãi ký ức hào hùng (Phần 2)

Những ngày cuối tháng Tư lịch sử, có dịp được nghe cựu chiến binh Phạm Trung Bính kể về những năm tháng “sống, chiến đấu” bảo vệ nền độc lập tự do của Tổ quốc, trong tôi đan xen nhiều xúc cảm. Lúc tự hào về chiến công, tinh thần “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh” của những người lính dũng cảm, mưu trí, lúc xót xa, thương cảm. Và, mỗi khi câu chuyện trầm xuống, những người lính già lại vội vàng giải thích: “Thời chúng tôi, ai cũng thế, chỉ có một tâm nguyện là được ra trận, cầm súng bảo vệ đất nướ

Ninh Bình22/04/2026Hoa Xuân (Đoàn thanh niên các cơ quan Đảng tỉnh)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Cầm trên tay cuốn hồi ký “Ký ức đời chiến chinh”, cựu chiến binh Phạm Trung Bính, số nhà 10/55, ngõ 253, đường Hàn Thuyên (thành phố Nam Định) rưng rưng nói: “Tôi đã ghi lại rất nhiều những kỷ niệm đáng nhớ trong những năm tháng sống, chiến đấu của mình vào hồi ký. Đó là những ký ức không thể nào quên”. Sinh ra trong một gia đình có 5 anh em, bố nguyên là đại đội trưởng du kích xã Hải Long, từng tham gia chỉ huy đánh các bốt: Văn Đàn (Hải Phương) và Đông Biên, thị trấn Yên Định(Hải Hậu), phục vụ chiến dịch Điện Biên Phủ, từ những ngày còn thơ bé các anh em ông Bính đều được nhen nhóm, ngấm sâu tinh thần yêu nước. Tháng 2-1965, khi tròn 18 tuổi, ông Bính cùng với 13 thanh niên trong xã Hải Long tình nguyện viết đơn xin nhập ngũ và được phân về Tiểu đoàn 7, Trung đoàn 812, Sư đoàn 324, Quân khu 4, đóng quân ở huyện Nghi Lộc (Nghệ An). Sau 3 tháng huấn luyện ở Nghi Lộc, đơn vị ông Bính nhận nhiệm vụ mới, bảo vệ biển Cửa Lò và Cửa Việt (Nghệ An); vận chuyển đạn dược, lương thực cho đảo Hòn Ngư, Hòn Mắt; đào công sự xuyên núi 200 Nghi Quang; thường trực phòng không bắn máy bay Mỹ…

Tham gia chiến trường, ông Bính chứng kiến nhiều trận chiến khốc liệt cũng như những thương vong của đồng chí, đồng đội. Trong một lần nhận nhiệm vụ tổ trưởng kíp 1 đi đào bom nổ chậm ở ga Mỹ Lý, huyện Yên Thành (Nghệ An), sau khi kíp đào trúng bom, bàn giao lại cho kíp 2 xử lý tiếp, ông Bính xuống sông rửa mặt mũi. Rửa mặt xong, ông quay người lên chào các đồng đội kíp 2 thì bom phát nổ, khiến 12 chiến sĩ hy sinh. Chứng kiến cảnh những người anh em chí cốt, đồng chí, đồng đội ngã xuống giữa chiến hào, ông Bính quyết tâm biến căm thù thành hành động. Ngay trong đêm đó, ông nhận nhiệm vụ mới đưa quân ra đảo Hòn Câu trực bắn máy bay Mỹ. “Nhận lệnh hành quân trong đêm thì sáng hôm sau chúng tôi đã có cơ hội “trả thù”. Phát hiện có máy bay Mỹ bay gần đảo, khi chỉ huy trưởng đảo hô: “Nhằm thẳng máy bay, bắn!”, tôi cùng các đồng đội đã đồng loạt nổ súng bắn cháy 1 máy bay Mỹ. Sau trận đánh này chúng tôi được thưởng Huy hiệu 15-8, đơn vị còn được thưởng để tổ chức liên hoan”, ông Bính kể. Tháng 2-1966, ông Phạm Trung Bính cùng đơn vị hành quân về Diễn Châu (Nghệ An) làm nhiệm vụ phòng không. Trong một lần trực bắn máy bay, ông Bính cùng các đồng đội phát hiện có phi công Mỹ rơi xuống kênh Nhà Lê, thuộc địa phận huyện Quỳnh Lưu (Nghệ An). Ngay lập tức, ông Bính cùng 6 bộ đội và dân quân chèo thuyền ra bắt phi công. Để cứu phi công, quân địch bố trí máy bay trực thăng và thuỷ phi cơ ứng cứu, bắn vòng quanh thuyền của ta. Khi thuyền ra đến chỗ phi công Mỹ, tên phi công chống cự ác liệt, nhất định không để bộ đội ta kéo lên. Ông Bính mưu trí bắt tên phi công. Thấy phi công bị bắt, trực thăng và thuỷ phi cơ Mỹ bắn càng xối xả vào thuyền. Từ bờ, pháo cao xạ của bộ đội ta bắn trả ác liệt, hạ 2 máy bay, buộc trực thăng và thuỷ phi cơ Mỹ phải rút quân. Năm 1968, khi tham gia chiến dịch Mậu Thân, đánh địch ở căn cứ La Vang (Quảng Trị) khắc sâu trong lòng ông Bính nhiều kỷ niệm. Mồng 1 Tết năm 1968, đại đội 2 của ông Bính bị quân địch bao vây giữa 1 nghĩa trang. Lúc này, trên cương vị đại đội phó, ông hạ lệnh cho xạ thủ vác B41 bắn trả xe tăng địch. Xạ thủ hy sinh, ông Bính giật súng bắn cháy liên tiếp 2 xe tăng địch, sau đó ngất đi do bị sức ép. Tỉnh dậy, ông tiếp tục chiến đấu thì bị thương vào tay và được hỗ trợ chuyển ra ngoài trận địa. Vết thương trở nặng, tháng 5-1968, ông Bính chuyển ra Bắc điều trị. Tháng 10-1968, ông chuyển ngành, rời quân ngũ.

Với lòng yêu nước, tinh thần chiến đấu quật cường, cùng hàng triệu những người lính khác, những năm tháng họ sống, chiến đấu đã trở thành “huyền thoại”. Để ngày hôm nay mỗi khi nghe lại câu chuyện của họ càng khiến chúng ta thêm tự hào, nguyện sống xứng đáng với sự hy sinh của lớp cha anh đi trước./.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn