chuongxedap Đại tá  Bài viết: 13633  | 
| Re: Sống mãi với thời gian« Trả lời #4 vào lúc: 07 Tháng Mười, 2022, 06:45:24 pm » |
NHÀ VĂN HOÁ TRONG MỘT VỊ TƯỚNG THAO LƯỢC Nhà văn NGUYÊN NGỌC Nguyễn Chánh là một danh tướng trí dũng song toàn của Đảng, quân đội và nhân dân ta. Ông đến với cách mạng với Đảng từ năm 14 tuổi. Ông là người lãnh đạo chủ chốt của Đội du kích Ba Tơ, một trong ba tổ chức tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam. Năm 31 tuổi, ông đã là Ủy trưởng quốc phòng Trung Bộ đầu kháng Pháp. Năm 1951, ba mươi bảy tuổi, ông là Bí thư Liên khu ủy, Chính ủy kiêm Tư lệnh Liên khu 5 (khi ấy bao gồm các tỉnh Trung Bộ, Tây Nguyên, Hạ Lào, Đông Bắc Cam-pu-chia). Sau năm 1954, ông là Tổng tham mưu phó rồi Chủ nhiệm Tổng cục Cán bộ Quân đội nhân dân Việt Nam cho đến khi mất vì bạo bệnh, năm 1957, khi mới 43 tuổi. Dù ông đã đi xa 45 năm nay, mọi người vẫn nhớ về ông với nỗi tiếc thương khôn nguôi một nhà lãnh đạo tài cao đức lớn, một vị tướng thao lược hiếm có, một con người chí nghĩa chí tình... Văn hiến Việt Nam xin giới thiệu bài viết về Nguyễn Chánh của nhà văn Nguyên Ngọc nhân 45 năm ngày mất của ông.
Thời kháng chiến chống Pháp, tôi có một thời gian dài làm việc ở báo Vệ quốc quân Liên khu 5 (từ năm 1952 đổi tên thành báo Quân đội nhân dân Liên khu 5). Là một cán bộ ở cấp rất thấp, tôi ít có dịp được làm việc trực tiếp với anh Nguyễn Chánh, bấy giờ là Bí thư Liên khu ủy, Chính ủy kiêm Tư lệnh Liên khu. Nhưng anh Chánh là người rất quan tâm đến báo chí, nên anh thường hay qua chỗ toà soạn của chúng tôi, thăm hỏi từng anh em, phát biểu những ý kiến chỉ đạo chung đối với từng bài báo của chúng tôi. Tôi nhớ những ý kiến của anh thường rất nghiêm khắc, cặn kẽ, chứng tỏ anh rất coi trọng vai trò của tờ báo và anh đọc báo rất kỹ. Nhưng cách nói của anh, ngay khi phê phán, vẫn rất ân cần. Anh thường không "chụp" ngay vào những chỗ khuyết điểm sai sót của chúng tôi trên báo, mà bằng các câu nói nhẹ nhàng, khêu gợi cho chúng tôi tự thấy ra, cuối cùng chính tự chúng tôi rút ra bài học, kết luận.
Những lần đến toà soạn, anh rất quan tâm đến số anh em trẻ, là học sinh mới vào bộ đội. Lúc bấy giờ ở toà soạn có Ngọc Anh và tôi đều mười bảy, mười tám tuổi. Chúng tôi vừa làm báo, vừa tập tò sáng tác văn học chút ít: Viết đôi bài bút ký nho nhỏ. Không ngờ anh Chánh biết và chú ý đến việc đó, Một hôm anh cho gọi tôi và Ngọc Anh lên. Thú thực lúc đầu tôi rất lo: Chắc là có khuyết điểm gì nặng trong bài báo nào của chúng tôi rồi đây. Đã chuẩn bị tinh thần để nghe anh "chỉnh" ...
Nhưng, rất ngạc nhiên, anh bắt đầu như là một người anh lớn tâm sự với hai đứa em nhỏ. Anh hỏi tỉ mỉ hoàn cảnh của gia đình từng đứa, học hành ra sao, vào bộ đội đã qua những công tác gì, "có phải có nguyện vọng muốn trở thành nhà văn không" ... Chúng tôi đành nhận là quả có như thế thật, nhưng chúng tôi còn lúng túng lắm, không biết học hỏi ở đâu.
Anh bảo, đại ý: Làm văn học là công việc rất cao quý, nói là thiêng liêng cũng không quá đáng, phải học hỏi rất nhiều. Học trường, học thầy, học trong sách. Nhưng có một cái học hết sức quan trọng không thể thiếu, đó là học hỏi từng trải ở đời. Cái thiếu lớn nhất của chúng tôi bây giờ là sự từng trải đó. Nên đi ra chiến trường, đi xuống đơn vị, sống và tham gia cuộc chiến đấu cùng đồng bào và chiến sĩ, đó là trường học hay nhất. Qua đó mà tích lũy lâu dài, về sau mới mong may ra có thể có chút thành công gì trên đường văn chương ...
Quả thật tôi rất cảm động và kinh ngạc: Không ngờ một vị Tư lệnh, bận bao nhiêu lo toan lớn lao phức tạp, lại có thể quan tâm đến hai anh chàng phóng viên trẻ, vô danh, hiểu thấu đáo cả ước mơ thầm kín của chúng tôi và lo nghĩ sâu sắc đến vậy con đường đi lâu dài trong cuộc đời của chúng tôi.
Ngọc Anh và tôi đều đề nghị anh cho chúng tôi ra đơn vị chiến đấu. Anh bảo: Cũng chưa cần như thế đâu. Nhưng đừng ru rú ở toà soạn mãi làm gì, nên đi xuống chiến trường, xuống đơn vị cơ sở, và xuống đó đừng có chỉ làm anh nhà báo suông mà phải thực sự tham gia công tác cùng anh em, đồng bào ...
Sau đó, chắc là anh có nói với anh Đinh Nho Bát, Trưởng ban Tuyên huấn Quân khu, và cả anh Trương Khả Liên, rồi anh Ngô Thông, Thư ký toà soạn của chúng tôi, nên các anh đưa ngay Ngọc Anh và tôi đi làm "phóng viên chiến trường" và giao nhiệm vụ: Cứ nằm ở dưới cơ sở, càng lâu càng tốt. Tôi đi Nam Tây Nguyên, Ngọc Anh đi mặt trận miền Tây tức vùng dân tộc thiểu số Tây Quảng Ngãi, Bắc Kon Tum. Chúng tôi đã làm đúng như lời anh Chánh dặn: Ngọc Anh trở thành cán bộ gây dựng cơ sở ở mặt trận miền Tây, tôi thì trực tiếp tham gia như là một đội viên một đội vũ trang tuyên truyền ở Đắc Lắc, rồi sau ra Bắc Tây Nguyên... Có thể nói chính nhờ sự chỉ bảo của anh Chánh mà về sau này tôi mới có được "Đất nước đứng lên", Ngọc Anh có những bài thơ tuyệt vời như "Bóng cây Kơ-nia" ...
Có lần trong chiến dịch Đông - Xuân - Hè 1953 - 1954, trên đường hành quân lên mặt trận, gặp tôi, anh hỏi tôi đi với đơn vị nào. Tôi báo cáo, tôi sẽ đi với tiểu đội bộc phá của Trần Xứng thuộc Tiểu đoàn 59 đánh đồn Kom Rẫy. Anh bảo vậy là tốt nhưng cũng đừng đi sâu quá thế, có thể hy sinh không cần thiết, nên đi với ban chỉ huy đại đội là vừa...
Năm 1956, ở Hà Nội, tôi viết xong quyển "Đất nước đứng lên", quyển sách vừa được xuất bản và được giải thưởng của Hội Văn nghệ Việt Nam. Một buổi tối anh gọi tôi đến nhà anh ở 34 Lý Nam Đế. Anh khen, động viên và hỏi:
- Giải thưởng với nhuận bút, được bao nhiêu tiền?
Tôi báo cáo anh Chánh tôi được hơn một triệu (tiền cũ hồi bấy giờ). Anh hỏi:
- Cậu định sử dụng số tiền đó như thế nào?
Thật tình tôi rất lúng túng: tôi chỉ có một mình, chưa vợ con, gia đình gì, tiền quả cũng chẳng biết làm gì bây giờ.
Anh bảo:
- Có tiền nhiều, không khéo cũng dễ thành người ăn chơi hư hỏng. Thôi bây giờ để mình bày cho cậu cách tiêu: có nhiều gia đình cán bộ quân đội ra tập kết ở Hà Nội, nay rất khó khăn. Cậu nên cho họ mượn mỗi nhà một ít để họ nuôi heo. Cậu không quen quản lý tiền nong, để mình nói cậu Kỳ (thư ký riêng của anh Chánh) quản lý hộ và cho các bà vay.
Tôi quá mừng, liền giao gần hết số tiền vừa có cho anh Kỳ, chỉ giữ lại một ít cho cậu em trai tôi mua một chiếc xe đạp...
Tôi nghĩ có lẽ không phải ngẫu nhiên mà anh Chánh, một vị tướng giữ trọng trách chỉ huy cả một chiến trường lớn, quan trọng và khó khăn, lại có thể quan tâm, lặng lẽ nhưng tận tình, chu đáo đến cuộc đời một người lính, một người viết văn như tôi, dìu dắt và theo dõi từng bước trưởng thành, chỉ cho cả phương hướng cuộc đời lâu dài, và cẩn thận răn ngừa cho cả những khi có thể vấp váp. Chắc ở đây không chỉ có trách nhiệm của một người lãnh đạo. Ở anh Chánh còn có một sự hiểu biết và đồng cảm sâu sắc với nghệ thuật và những người làm nghệ thuật. Bởi vì trong anh, theo tôi, ẩn chứa rất sâu, có một tâm hồn nghệ sĩ, theo nghĩa sâu và đúng nhất của nó.
Anh Chánh không có Tây học bao nhiêu, nhưng Hán học thì anh khá giỏi. Gia đình anh, nhất là phía mẹ, là một gia đình có truyền thống văn chương. Không phải chỉ ở chỗ có nhiều người làm thơ phú (chính anh Chánh cũng làm nhiều thơ), mà ở chỗ những con người này có một dòng máu tài hoa phong phú và thâm thuý. Hoặc nói cho thật đúng hơn là có một nền tảng văn hoá thật sự, một tinh thần văn hoá sâu sắc.
Anh Chánh là một con người tài hoa. Trong tài hùng biện của anh - mà tất cả những người từng tiếp xúc với anh đều nhớ và cảm phục - trọng tài năng tập hợp, thu phục lòng người, kể cả nhiều loại trí thức "có cỡ" mặc dầu anh đi học ở trường chưa hết bậc phổ thông, ngay cả trong cách xử trí các tình huống khác nhau của anh ở cương vị một người lãnh đạo cao và một vị tướng, nhìn kỹ đều có in dấu chất tinh hoa đẹp đẽ ấy.
Không phải ngẫu nhiên mà anh Chánh là người am hiểu và yêu mến đến thế các loại hình nghệ thuật sân khấu dân tộc, đặc biệt là nghệ thuật tuồng. Các anh chị trong ngành đã nói nhiều về công lớn của anh Chánh trong việc khôi phục, giữ gìn, phát triển nghệ thuật sân khấu truyền thông tuyệt vời này. Riêng tôi, có lần được chứng kiến một trường hợp thú vị. Ấy là trong một dịp hội nghị nào đó, hình như là đại hội thi đua hay hội nghị Quân chính Quân khu thì phải. Anh em tổ chức một tối hát tuồng, toàn bộ các phòng ban của Quân khu tự diễn, tôi nhớ có anh Lô, cán bộ tác chiến, diễn rất giỏi. Lúc anh em đang tập, anh Chánh ghé qua, thấy thích quá, anh bảo:
- Cho mình đóng một vai với.
Anh em bảo:
- Không được đâu, bọn tui phải tập suốt ngày thế này, anh bận lắm, thời giờ đâu để tập mà đòi sắm vai.
Anh Chánh nói:
- Thế thì tối nay cho mình cầm chầu vậy!
Trong hát bội, người cầm chầu (đánh trống chầu) là ngươi rất sành nghệ thuật. Tối đó, trong đêm biểu diễn, anh Chánh ngồi cầm chầu, tiếng trống điểm nhịp, tiếng trống khen, tiếng trống chê... rất hay, anh em trầm trồ không ngờ Tư lệnh giỏi nghề hát bội đến thế.
Đến lúc kết thúc đêm diễn, anh em vây quanh, anh Chánh cười rất vui, nói:
- Đời mình ấy mà, không đi làm cách mạng, thì mình đã đi hát bội rồi!
Quả thật, có một tâm hồn nghệ sĩ sâu xa tiềm ẩn trong vị tướng thao lược ấy... Hơn nửa thế kỷ qua kể từ những ngày đầu tiên tôi được gặp và biết anh Nguyễn Chánh. Bốn mươi năm đã qua kể từ ngày anh mất.
Trong những năm tháng về sau này, trong cuộc đời hoạt động đó đây của mình, tôi có nhiều lần nhớ và suy nghĩ về anh.
Trong hiểu biết thiển cận của tôi, tôi nghĩ anh là một vị tướng tài và một người lãnh đạo giỏi. Nhưng chắc hẳn không phải là tướng giỏi nhất, cũng không phải là người lãnh đạo tài giỏi nhất trong những người lãnh đạo của Đảng ta.
Nhưng vẫn có một dấu hỏi: vì sao anh để một dấu ấn sâu đậm, thắm thiết và một niềm nuối tiếc đến vậy trong hầu như tất cả những ai từng ít nhiều gặp và biết anh?
Có lẽ rõ nhất là vì con người của anh.
Nhưng trong con người đó, thì là điều gì?
Có lẽ có một lý do, thoạt nghe có thể hơi bất ngờ, nhưng nghĩ kỹ thì càng nghĩ càng thấy thấm: Anh Nguyễn Chánh là một con người văn hoá, một nhà văn hoá, theo nghĩa rộng và đẹp nhất của khái niệm đó. Ở anh, không ít uyên bác phương Đông và Việt Nam, mà bằng sự thông minh hiếm có, anh đã học được ngay từ nhỏ và gìn giữ, phát triển suốt đời, vận dụng sắc sảo những gì là bản chất tinh tuý nhất, trong công việc cách mạng, trong ứng xử việc lớn việc nhỏ, trong quan hệ với con người.
Cái văn hoá uyên bác đó được hoà trộn nhuần nhuyễn đến như hoàn toàn tự nhiên với văn hoá dân gian, dân tộc, mà anh hiểu, yêu và giỏi nữa.
Những vấn đề văn hoá trực tiếp anh giải quyết trong cương vị công tác của anh và cả trong đời thường, thường không nhiều và "không chính thức" (vì chủ yếu anh là tướng cầm quân đánh giặc). Nhưng nhìn lại mà xem: đều đúng, sâu, cơ bản, có cái có ý nghĩa "cứu" cả một mảng quan trọng văn hoá nghệ thuật dân tộc (như đối với tuồng...), và thật chí nghĩa chí tình.
Anh Nguyễn Chánh cho ta hiểu thế nào là một nhà văn hoá, mà chẳng phải "ồn ào văn hoá" chút nào. |