“Sống thì nhớ, chết thì giỗ cái giờ phút này”
Trong hồi ký “Phú Riềng đỏ”, Thiếu tướng Trần Tử Bình kể chi tiết về cuộc vượt ngục đầy ngoạn mục ở thời điểm “có một không hai” ấy: “Tôi bóp óc tính toán. Hàng chục biện pháp vượt ngục khác nhau cùng hàng chục tình huống và cách xử trí cứ như quấn lấy óc tôi. Trời sáng nhanh quá, mải suy nghĩ, lại thức trắng đêm nữa rồi! Tôi vùng ngồi dậy, trong đầu vẫn căng thẳng với những tính toán vượt ngục… Tôi liên hệ, hỏi han các đồng chí khác, dòm ngó, ngắm nghía mọi nơi…”. Bỗng đồng chí Phu chú ý đến tấm xi măng hình vuông trong sân nhà giam. Nó cũng như mọi tấm xi măng khác, chỉ khác là có vòng sắt ở giữa. Một luồng ý nghĩ loé lên, đó có thể là chiếc nắp đậy cửa cống ngầm, mà đường cống ngầm sẽ ở đâu đó trong khuôn viên nhà giam. Đó có thể là lối ra hay nhất lúc đó, dù không dễ dàng gì.
Chính những lần bị bắt và lần vượt ngục không thành đã dạy cho Phạm Văn Phu nhiều bài học thực tế. Đã từng có lúc rảnh rỗi, ông nghiên cứu cách mở khóa, mở cổng, dự kiến cả cách ra bằng đường cống. Cũng có lần ông tò mò xem anh em phu cống làm việc, hỏi han rồi quan sát cửa cống, lòng cống… Phu lập tức trao đổi với 3 đồng chí Cử, Vân, Hoà về phương án vượt ngục và cử họ thăm dò đường cống.
Buổi trưa hôm đó, 3 đồng chí lẻn vào sân trại J, dùng nẹp cùm bẩy nắp cống lên. Đồng chí Vân canh gác cho 2 đồng chí Hòa và Cử nhỏ người chui xuống. Một lúc sau, khi nghe các đồng chí báo cáo: “Đi được rồi”, Phạm Văn Phu khẩn trương trù tính kế hoạch cụ thể. Ông nhẩm tính danh sách các đồng chí đi đợt đầu, trong đó có các đồng chí án nặng. Ông giao trách nhiệm cho một đồng chí phụ trách số đảng viên còn lại và tổ chức cho mọi người tiếp tục trốn đợt sau. Quần áo thường dân cho các đồng chí được bí mật chuẩn bị được ít nhiều.

“Có lối đi rồi, chuẩn bị thôi”, “Lối cống”, “Lên đèn thì đi”, kế hoạch chuẩn bị vượt ngục của đồng chí Phu được bí mật truyền tới các anh em. Khoảng 4 giờ chiều, tất cả 29 đồng chí được báo đi đợt đầu đã tìm cách có mặt đủ tại trại J - nơi có tường cao 4 phía, kín đáo nên ít ai để ý. Trời đã tối, đèn điện bật lên. “Đến lúc rồi”, đồng chí Phu hạ lệnh mở cống, không quên dặn dò: “Sống thì nhớ, chết thì giỗ cái giờ phút này”. Tổ đầu tiên do đồng chí Phu trực tiếp chỉ huy có 4 đồng chí Hòa, Bình, Vân và Tuân. Cống hẹp, phải cúi rạp người mới chui vừa. Lòng cống tối om, hôi thối, đủ loại rác rưởi. Nhưng không ai còn để ý đến điều đó, ai cũng mải miết di chuyển, có đoạn phải bò. Riêng những bộ quần áo thường dân thì được giữ hết sức cẩn thận, người đội trên đầu, người đeo trên lưng, hoặc buộc sau gáy.
Chừng 20 phút sau thì tới cửa cống. Đồng chí Hòa lấy hết sức nâng nắp cống lên và thoát ra, sau đó lần lượt các anh em lên khỏi cống. Đường phố vắng tanh, nhận ra đó là cửa cống phía sau nhà tù Hoả Lò, gần vườn hoa Mê Linh, cả nhóm nhanh chóng nối gót đi tới vườn hoa và nhảy xuống hầm tránh máy bay ở ngay đó. Trong hầm có vũng nước đọng, họ vớt nước rửa qua quýt cho bớt mùi hôi thối rồi thay quần áo thường dân vào. Những nhóm tiếp theo cũng rải rác chui ra khỏi cống, nhanh chóng tìm đường đi ngay.
Từ ngày 11/3-16/3/1945, hơn 100 đồng chí đã thoát ra ngoài trót lọt bằng cách “độn thổ” qua đường cống ngầm này, tỏa đi khắp nơi, kịp thời tham gia một giai đoạn đấu tranh mới của cách mạng lúc đó đang dâng lên như nước thủy triều. Đó là cuộc vượt ngục lần thứ hai, cũng là cuộc vượt ngục cuối cùng của đồng chí Phạm Văn Phu trong quá trình đấu tranh chống thực dân Pháp.
Sau này, năm 1964, ông đã viết: “Hơn 20 năm trôi qua, tôi vẫn còn nhớ cái ngày lửa cách mạng cháy rừng rực, một số khá đông cán bộ chúng tôi đã thoát ngục Hỏa Lò trở về với phong trào, để cùng toàn dân tiến tới đập vỡ tan tành toàn bộ chế độ tù ngục của kẻ thù. Đó là cuộc vượt ngục lần thứ 2, cuộc vượt ngục cuối cùng mà cũng là cuộc vượt ngục trong điều kiện mới lạ nhất đối với tôi trong quá trình đấu tranh chống thực dân Pháp”.
Ông Trần Tử Bình (hàng đầu, bên phải) cùng ông Phan Anh đến thăm mộ liệt sĩ Phạm Hồng Thái ở Quảng Châu, năm 1964


