Bài viết

Sống với những trang nhật ký chiến trường

Hưng Yên08/01/2026Vũ Toàn (phường trà lý)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Ông Ngọc đi bộ đội năm 1966, khi 18 tuổi, vừa hết lớp 7. Thấy chúng tôi ngạc nhiên, ông bảo nhà nghèo, lên 10 tuổi mới được đi học.

“Dạo ấy, làng xã náo nức không khí tòng quân. Xã tôi có 36 thanh niên nhập ngũ. Tôi là con một, bố lại mất sớm nên không thuộc diện đi bộ đội nhưng tuổi trẻ thôi thúc chàng trai quê nghèo. Lần đầu, đơn tình nguyện của tôi không được chấp nhận. Tôi viết tiếp đơn lần 2 rồi lần 3, ký tên bằng máu. Lần này thì mong muốn của tôi được toại nguyện. Mẹ tôi là cán bộ phụ nữ xã. Bà thương con trai “độc đinh” lắm nhưng rồi cũng đồng lòng, miễn là tôi được mặc áo lính như thanh niên trong làng”, ông Ngọc bồi hồi kể.

Ông Ngọc nhập ngũ mang theo nhiều ký ức đời học sinh dang dở, nhưng ký ức sâu đậm nhất ẩn chứa trong lời dặn của thầy giáo dạy văn khuyên học trò giỏi văn là “vào chiến trường, em nên tranh thủ thời gian để viết nhật ký như em thường viết khi đi học”.

Ông không ngờ, những trang nhật ký đó giờ trở thành những trang văn sống động, chân thật và quý báu nhất trong đời ông. Hồi tưởng lại những trang nhật ký từng “ra đời” trong mưa bom bão đạn, ánh mắt ông Ngọc sáng lên.

Ông kể: “dọc đường những cuộc hành quân hoặc lúc nghỉ lại trong nhà dân, nhất là sau từng trận đánh cam go, có biết bao diễn biến giữa sự sống và cái chết. Ở đó, xảy ra bao tình cảnh, sự việc khiến tâm can người lính không thể yên nguôi, không thể nguôi quên. Viết nhật ký như một nhu cầu sống thiết yếu, trở thành nỗi thôi thúc trong tâm hồn người lính trẻ. Nhưng ở chiến trường đâu có sẵn bút và giấy để viết. Viết nhật ký rồi để vào đâu cho hết khi ba lô căng đầy áo quần, tăng võng, lương khô...”.

Có lần, viết kín từng cuốn sổ tay, người lính Đặng Sỹ Ngọc đang ngồi nhớ những dòng nhật ký chưa kịp viết vì hết cả giấy bút. Anh chợt nghĩ, chỉ có cách thu hồi chiến lợi phẩm sau từng trận đánh thì sẽ có bút, có giấy, tha hồ mà viết.

Rồi những chiến lợi phẩm cho riêng mình ấy đã giúp anh ghi lại chính xác, không sót sự kiện quan trọng nào. Anh viết mọi lúc, mọi nơi. Viết dưới hầm. Viết trên mâm pháo. Nằm trong trạm phẫu thuật, khi vết thương bớt đau cũng cầm bút viết vài dòng.

“Vậy, ông để đâu cho hết những cuốn nhật ký?”, tôi tò mò. “Những ngày đầu, viết xong là lên đường nên tôi gửi lại những cuốn sổ nhỏ trong nhà dân”. “Số phận những cuốn sổ nhật ký ấy rồi sẽ như thế nào?”, “Hầu hết bị mất vì nhà dân thời chiến tranh không dễ yên lành với bom đạn huống chi mấy cuốn sổ nhỏ”.

“Vậy những cuốn sách ông đã xuất bản thì viết bằng trí nhớ hay sao?”. “Trí nhớ chỉ một phần. Đời lính ngổn ngang những kỷ niệm, chiến tích. Tôi “biến” những trang nhật ký thành sách là nhờ những “cuộn” nhật ký tôi gửi về cho mẹ khi bằng đường thư từ chiến trường, khi nhờ đồng đội “cầm ra Bắc”. Mẹ tôi cất giữ rất cẩn thận cho đến lúc tôi là thương binh về làng. Sau này, khi ngồi lần giở từng trang nhật ký để viết sách tôi mới thấy sự “siêng” viết nhật ký đã giúp tôi trở thành nhân chứng sống của những đồng đội đã anh dũng hy sinh và của chiến tranh”.

Nhắc đến chi tiết này, ông Ngọc cho biết, năm 1967 đơn vị ông vào chiến trường Gio Linh, Gio An chuẩn bị cho chiến dịch Mậu Thân 1968 ở mặt trận Huế thì ông bị thương lần đầu tiên khi đạn địch bắn gãy cánh tay trái.

Lần ấy, trước khi phẫu thuật vết thương, tranh thủ lúc cơn đau dịu xuống, ông ghi tên mấy nữ quân y trong trạm phẫu thuật vào trang nhật ký. Mới đây, trang nhật ký đó giúp ông tìm lại những nữ quân y đã phẫu thuật cho ông, người ở Nam Định, người ở Hà Tây (cũ)...

Ông bảo: “người còn, người mất nhưng tất cả đều như đang sống lại trong tôi đều nhờ những trang nhật ký chiến trường năm xưa”.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn