Mẹ Việt Nam Anh hùng

SP KHTN - Anh hùng Lao động Nguyễn Thị Suốt

Đồng Tháp04/06/2026KHOA SƯ PHẠM KHOA HỌC TỰ NHIÊN (ĐOÀN TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐỒNG THÁP)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Mẹ Suốt – Mái chèo không ngơi nghỉ bến sông Nhật Lệ Ngày 19 tháng 9 năm 1954, khi Trung ương Đảng, Chính phủ, Bộ Tổng tư lệnh cùng các đơn vị bộ đội chủ lực chuẩn bị về tiếp quản Thủ đô, Bác Hồ đã căn dặn cán bộ, chiến sĩ thuộc Đại đoàn quân Tiên Phong tại đền Hùng: “Các Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”. Trong quá trình kháng chiến trường kì của dân tộc, ta có thể thấy được sự đoàn kết, cống hiến và hy sinh của biết bao thế hệ cha ông, trong đó, có những cá nhân như anh Phan Đình Giót – anh hùng lấp lỗ châu mai, chị Võ Thị Sáu – nữ du kích kiên cường nơi miền đất đỏ và mẹ Nguyễn Thị Suốt – người mẹ anh hùng chèo đò ở bến sông Nhật Lệ là một trong rất nhiều những tấm gương cao đẹp ấy. Tiểu sử mẹ Nguyễn Thị Suốt. Mẹ Suốt, tên thật là Nguyễn Thị Suốt (1908 – 1968), sinh tại xã Bảo Ninh, Thị xã Đồng Hới, Quảng Bình. Mẹ là một nữ Anh hùng Lao động trong công cuộc Kháng chiến chống Mỹ cứu nước, với một chiếc xuồng và mái chèo mẹ đã chở bộ đội, thương binh và vận chuyển vũ khí qua sông Nhật Lệ - một công việc vất vả, đòi hỏi sức khỏe, sự dẻo dai và kinh nghiệm sông nước. Sinh ra trong một gia đình ngư dân nghèo nên mẹ phải đi ở đợ suốt 18 năm. Sau sự thành công của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, mẹ nhận lời về làm vợ thứ cho cụ ông Trần Bạo, làm nghề chèo đò kiếm sống và sinh cho ông bốn người con gồm 3 trai, 1 gái. Mẹ sống cùng chồng và người vợ lớn chung 1 mái nhà nên cũng coi con của người vợ lớn như con mình, khi người vợ lớn mất bà vẫn yêu thương đùm bọc và dạy dỗ các con nên người. Sau quá trình cống hiến không ngừng nghỉ, hiện nay, nơi yên nghĩ của mẹ được đặt tại Nhĩa chan thôn Cửa Phú, xã Bảo Ninh ( nay là phường Đồng Hới). Sau này mẹ được Nhà nước công nhận là Liệt sĩ.

Quá trình hoạt động Cách mạng 1. Tiền đề tham gia cách mạng: Mẹ Suốt sinh ra trong một gia đình lao động nghèo ở vùng đất Quảng Bình đầy nắng gió. Cuộc đời mẹ gắn bó với nghề chèo đò trên sông Nhật Lệ. Chính hoàn cảnh sống khó khăn cùng sự từng trải qua nhiều biến cố đã hun đúc ở mẹ đức tính chịu thương chịu khó, kiên cường và ý chí mạnh mẽ. Đây cũng là nền tảng để mẹ sẵn sàng tham gia cách mạng khi đất nước cần. 2. Tham gia kháng chiến và nhận nhiệm vụ cáchmạng Sau sự kiện Vịnh Bắc Bộ, trong giai đoạn 1964 – 1966 khi cuộc kháng chiến chống Mỹ diễn ra ác liệt, Mỹ bắt đầu đem quân đánh miền Bắc quê hương Quảng Bình trở thành một trong những vùng bị đánh phá dữ dội nhằm chặt đứt sự chi viện cho miền Nam. Nhận thức rõ trách nhiệm của mình đối với đất nước, dù lúc này mẹ Suốt đã 58 tuổi nhưng mẹ vẫn tự nguyện tham gia phục vụ cách mạng xung phong chèo đò trên sông Nhật Lệ chở cán bộ, thương binh và vũ khí qua sông, giữ vững liên lạc giữa hai bờ. Từ năm 1964–1966, bà chèo hàng trăm chuyến đò dưới bom đạn, mỗi năm ước tính khoảng 1.400 chuyến, nên được mọi người gọi thân mật là Mẹ Suốt. Dù công việc nhìn có vẻ đơn giản nhưng thực chất đây là một nhiệm vụ chiến đấu thầm lặng, góp phần quan trọng vào công cuộc kháng chiến mang ý nghĩa là một tuyến giao thông huyết mạch nối liền hậu phương với tiền tuyến. Năm 1966, mẹ được mời dự Đại hội Anh hùng, Chiến sĩ thi đua toàn quốc. Vào ngày 1/1/1967 mẹ được phong tặng danh hiệu Anh hùng ngành Giao thông vận tải. Trong những năm 1967–1968, khi chiến tranh trở nên ác liệt hơn, mẹ dừng công việc lái đò, để tham gia vận chuyển lương thực.3. Sự hi sinh anhdũng Trong một lần đang làm nhiệm vụ đưa đò, mẹ Suốt đã anh dũng hi sinh trong 1 trận bom bi oanh tạc của Mỹ. Sự ra đi của mẹ là một mất mát lớn, nhưng cũng là minh chứng tiêu biểu cho tinh thần sẵn sàng hi sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc. Cuộc đời mẹ khép lại trên chính dòng sông mà mẹ đã gắn bó và cống hiến trọn vẹn. Năm 1980, Ủy ban Nhân dân thị xã Đồng Hới đã cho dựng bia đài Mẹ Suốt nằm giữa trung tâm bến đò. Hiện nay ngay gần cầu Nhật Lệ là con đường Mẹ Suốt, là nơi đặt bức tượng mẹ Suốt. Bức tượng được khánh thành năm 2003, tác giả là nhà điêu khắc Phan Đình Tiến. Bài thơ về Mẹ Suốt Lặng nghe mẹ kể ngày xưa Chang chang cồn cát nắng trưa Quảng Bình Mẹ rằng: Quê mẹ, Bảo Ninh Mênh mông sóng biển, lênh đênh mạn thuyền Sớm chiều, nước xuống triều lên Cực thân từ thuở mới lên chín mười Lớn đi ở bốn cửa người Mười hai năm lẻ, một thời xuân qua Lấy chồng, cũng khổ con ra Tám lần đẻ, mấy lần sa, tội tình! Nghĩ mà thương mẹ cha sinh Thương chồng con lại thương mình xót xa... Bây chừ sông nước về ta Đi khơi đi lộng, thuyền ra thuyền vào Bây chừ biển rộng trời cao Cá tôm cũng sướng, lòng nào chẳng xuân! Ông nhà theo bạn “xuất quân” Tui may cũng được vô chân “sẵn sàng” Một tay, lái chiếc đò ngang Bến sông Nhật Lệ, quân sang đêm ngày Sợ chi sóng gió tàu bay Tây kia mình đã thắng, Mỹ này ta chẳng thua!Kể chi tuổi tác già nua Chống chèo xin cứ thi đua đến cùng! Ngẩng đầu mái tóc mẹ rung Gió lay như sóng biển tung, trắng bờ... Gan chi gan rứa, mẹ nờ? Mẹ rằng: Cứu nước, mình chờ chi ai? Chẳng bằng con gái, con trai Sáu mươi còn một chút tài đò đưa Tàu bay hắn bắn sớm trưa Thì tui cứ việc nắng mưa đưa đò... Ghé tai mẹ, hỏi tò mò: Cớ răng ông cũng ưng cho mẹ chèo? Mẹ cười: Nói cứng, phải xiêu Ra khơi ông còn dám, tui chẳng liều bằng ông! Nghe ra, ông cũng vui lòng Tui đi, còn chạy ra sông dặn dò: “Coi chừng sóng lớn, gió to Màn xanh đây mụ, đắp cho kín mình!” Vui sao, câu chuyện ơn tình Nắng trưa cồn cát Quảng Bình cũng say... Tố Hữu, 4 – 11 - 1965 Cảm nghĩ về quá trình hoạt động của Mẹ Suốt Khi tìm hiểu sâu về mẹ Suốt ta lại càng thấy trong mẹ là một tâm hồn quật cường, mạnh mẽ và có ,ột trái tim với lòng yêu nước nồng nàn. Bởi, khi chiến tranh chống Mỹ leo thang, đặc biệt từ năm 1964, Quảng Bình trở thành “tọa độ lửa”. Ở cái tuổi gần 60, khi nhiều người đã lui về nghỉ ngơi, mẹ vẫn ngày ngày chèo đò đưa bộ đội, thương binh, vũ khí qua sông Nhật Lệ. Tôi tự hỏi: “Điều gì đã khiến mẹ can đảm đến vậy?”. Giữa chốn bơm rơi đạn lạc, mỗi chuyến đò của mẹ là một lần đối diện với cái chết. Nhưng mẹ không dừng lại, mẹ vẫn chèo, mái chèo của mẹ không chỉ rẽ nước, mà còn rẽ cả nỗi sợ hãi. Khi đọc đến đây, tôi không còn chỉ là người đang tìm hiểu lịch sử nữa. Tôi thấy mình như đang đứng bên bờ sông, nhìn theo bóng mẹ nhỏ bé giữa khói lửa mịt mù. Tôi muốn gọi mẹ một tiếng, nhưng cổ họng nghẹn lại. “Mẹ ơi, sao mẹ có thể mạnh mẽ đến thế?”. Không chỉ chèo đò, mẹ còn tham gia vận

chuyển lương thực phục vụ tiền tuyến. Những công việc tưởng chừng nhỏ bé ấy lại là mạch máu nuôi sống cả chiến trường. Tôi hiểu rằng, chiến thắng của dân tộc không chỉ được làm nên bởi những trận đánh lớn, mà còn từ những con người như mẹ - âm thầm mà bền bỉ.

Đến năm 1968 - năm mẹ hy sinh trong một trận bom khi đang làm nhiệm vụ. Mẹ ngã xuống, nhưng tôi tin rằng dòng sông Nhật Lệ ngày hôm ấy đã ôm lấy mẹ như ôm một phần linh hồn của quê hương. Và từ đó, mỗi con sóng, mỗi làn nước dường như đều mang theo hình bóng của mẹ. Mẹ được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động năm 1967, những gì mẹ đã làm - những chuyến đò trong mưa bom bão đạn đã là một bản hùng ca không lời, vang lên từ trái tim của một người mẹ.

Sau khi tìm hiểu về mẹ, tôi nhận ra rằng lòng yêu nước không phải là điều gì xa xôi. Nó có thể giản dị như cách mẹ cầm mái chèo, như cách mẹ chọn ở lại với dòng sông thay vì tìm một nơi an toàn hơn. Mẹ khiến tôi hiểu rằng: “Yêu quê hương là dám sống vì nó, dám hy sinh vì nó, ngay cả khi bản thân chỉ là một con người bình thường”. Trong tâm trí tôi, mẹ không chỉ là một nhân vật lịch sử. Mẹ là biểu tượng của sự kiên cường, là hiện thân của người phụ nữ Việt Nam - nhỏ bé nhưng không bao giờ khuất phục.

Hành trình tìm hiểu về mẹ Suốt đã để lại trong tôi một nỗi xúc động sâu sắc và dai dẳng. Tôi không chỉ biết thêm một câu chuyện lịch sử, mà còn cảm nhận được một trái tim lớn - trái tim anh hùng của quê hương. Dù thời gian có trôi qua, dù đất nước đã hòa bình, tôi tin rằng hình ảnh mẹ vẫn sẽ mãi sống trong lòng những người con Việt Nam. Và với riêng tôi, mỗi lần nhớ đến mẹ là một lần lòng yêu quê hương lại cháy lên - âm ỉ mà bền bỉ, như chính cuộc đời của mẹ vậy

Chủ tịch Hồ Chí Minh – vị cha già, Người lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam ta đã nói “Không có gì quý hơn độc lập, tự do!”. Thật vậy, để có được nền độc lập tự chủ như ngày nay, dân tộc ta đã phải đánh đổi rất nhiều, những giọt mồ hôi, nước mắt và cả máu xương của cha anh. Vì lẽ đó, lớp trẻ chúng ta - những người nắm giữ vận mệnh của đất nước trong tương lai cần phải luôn phấn đấu vươ lên để tích lũy cho mình thật nhiều thật nhiều kiến thức, trí tuệ trở thành một thế hệ trẻ “Vừa hồng, vừa chuyên” nhằm tạo nền tảng, là tiềm lực cho công cuộc kiến thiết đất nước đầy khó khăn phía trước.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn