Người hoạt động cách mạng trước năm 1945

SP KHTN - Phan Bội Châu

Đồng Tháp04/06/2026KHOA SƯ PHẠM KHOA HỌC TỰ NHIÊN (ĐOÀN TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐỒNG THÁP)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Trong dòng chảy cuồn cuộn của lịch sử dân tộc đầu thế kỷ XX, khi đất nước chìm trong đêm dài nô lệ, nổi bật lên như một ngọn đuốc soi đường cho lòng yêu nước là hình ảnh cụ Phan Bội Châu. Ông không chỉ là một nhà trí thức uyên bác, một nhà văn lỗi lạc mà còn là một nhà cách mạng kiên trung, suốt đời bôn ba tìm kiếm con đường giải phóng dân tộc, được nhân dân kính trọng tôn vinh là "bậc anh hùng, vị thiên sứ, đấng xả thân vì độc lập".

1) Khái quát cuộc đời Phan Bội Châu (1867 - 1940):

Xuất thân và tài năng: Phan Bội Châu (tên thật là Phan Văn San ), ông đã đổi tên từ Phan Văn San sang Phan Bội Châu khi tham gia kỳ thi Hương vào năm 1900. Phan Bội Châu sinh ngày 26/12/1867 tại vùng đất học Nam Đàn, Nghệ An, trong một gia đình nhà nho nghèo yêu nước. Ông nổi tiếng với trí thông minh vượt trội từ thuở nhỏ, 6 tuổi đã thuộc lòng Tam Tự Kinh, 13 tuổi đỗ đầu huyện.

Sự nghiệp cách mạng:

Tháng 12/1900: Đỗ Giải nguyên (đỗ đầu) thi Hương tại trường Nghệ đây là bước ngoặt khiến danh tiếng của cụ vang dội khắp vùng. Song ông không ra làm quan mà quyết chí dấn thân vào con đường cứu nước.

Tháng 5/1904, tại nhà của Nguyễn Hàm (Tiểu La) ở Quảng Nam: Ông thành lập Duy Tân hội, phát động phong trào Đông Du, đưa thanh niên Việt Nam sang Nhật Bản học tập nhằm đào tạo nhân tài phục vụ công cuộc cứu nước.

Ngày 20/01/1905: Cụ Phan cùng Đặng Tử Kính và Tăng Bạt Hổ rời Hải Phòng sang Nhật Bản, bắt đầu hành trình tìm đường cứu nước và khởi động phongtrào Đông Du.

Tháng 6/1912: Tại Quảng Châu (Trung Quốc), ông cải tổ Duy Tân hội thành Việt Nam Quang phục hội với mục tiêu đánh đuổi thực dân Pháp, thành lập Cộng hòa Dân quốc Việt Nam. Đây là một bước tiến quan trọng trong tư tưởng của cụ, chuyển từ quân chủ lập hiến sang dân chủ cộng hòa.

Năm 1913 – 1917: Ông bị quân phiệt Long Tế Quang bắt giam tại nhà tù Quảng Đông. Tại đây, ông viết "Ngục trung thư" (Thư trong ngục), một tác phẩm đầy ý chí và lòng yêu nước.

Năm 1924: Trước sự lớn mạnh của phong trào cách mạng thế giới và sự xuất hiện của những nhà cách mạng trẻ (như nhóm Tâm Tâm Xã), ông dự định cải tổ Việt Nam Quang phục Hội thành Việt Nam Quốc dân Đảng, nhưng ý định này chưa kịp hoàn tất thì ông bị bắt.

Tư tưởng và cuối đời: Tư tưởng của ông đã chuyển biến từ việc dựa vào Nhật sang tự lực cánh sinh, sử dụng thơ văn để khơi dậy lòng yêu nước (khuynh hướng dân chủ tư sản).Đây là giai đoạn tư tưởng của ông đạt đến độ chín muồi, chuyển dần từ lập trường quân chủ sang khuynh hướng dân chủ tư sản tiến bộ, đồng thời mở lòng đón nhận những luồng tư tưởng mới của thời đại, trở thành nhịp cầu nối giữa hai thế hệ cách mạng của dân tộc.

Ngày 30/06/1925: Cụ Phan bị mật thám Pháp bắt cóc tại nhà ga Bắc Thượng Hải (Trung Quốc) khi đang trên đường đi dự một cuộc họp, dưới áp lực của phong trào đấu tranh của quần chúng (phong trào đòi thả Phan Bội Châu), thực dân Pháp buộc phải đưa cụ về giam lỏng tại Bến Ngự, Huế. Từ đó, cụ có biệt danh là "Ông già Bến Ngự". Ông bị giam lỏng tại Bến Ngự, Huế cho đến khi qua đời vào năm 1940.

Di sản: Phan Bội Châu để lại một sự nghiệp văn chương đồ sộ, là biểu tượng cao đẹp của tinh thần yêu nước và ý chí đấu tranh kiên cường.

2) Phong trào Đông Du

Phong trào Đông Du là một phong trào cách mạng ở Việt Nam đầu thế kỷ 20. Phong trào có mục đích kêu gọi thanh niên Việt Nam ra nước ngoài (Nhật Bản) học tập, chuẩn bị lực lượng chờ thời cơ cho việc giành lại độc lập nước nhà. Lực lượng nòng cốt cổ động và thực hiện phong trào là Duy Tân hội và Phan Bội Châu.

*Lịch sử:

Đầu thế kỷ 20, Pháp đã hầu như hoàn thành quá trình bình định Việt Nam, dẹp yên các cuộc nổi dậy đòi độc lập trong nước. Cuộc khởi nghĩa Yên Thế của Đề Thám chỉ còn hoạt động ở diện hẹp (bị dập tắt vào năm 1913).

Năm 1903, Phan Bội Châu, một sĩ phu yêu nước người Nghệ An, bắt đầu đi vào Nam ra Bắc để liên hệ và để thành lập một tổ chức cách mạng.

*Thành lập Duy Tân:

Kỷ ngoại hầu Cường Để (trái) và Phan Bội Châu tại Nhật Bản

Đầu năm 1904, sau khi từ Nam Kỳ về, ngày 8 tháng 4 năm Giáp Thìn (1904), Phan Bội Châu cùng Kỳ Ngoại hầu Cường Để (cháu 5 đời của Hoàng tử Cảnh) và hơn 20 đồng chí khác họp tại nhà riêng của Nguyễn Hàm (còn có tên là Nguyễn Thành, Nguyễn Tiểu La) tại Nam Thịnh sơn trang (Thăng Bình, Quảng Nam) lập ra một tổ chức bí mật có tên là Duy Tân hội.

Kỳ Ngoại hầu Cường Để được mời làm Hội chủ để thu phục nhân tâm tập hợp sĩ phu yêu nước, tranh thủ sự đồng tình và giúp đỡ của nhiều người trong nước. Còn Phan Bội Châu, Nguyễn Hàm, Trình Hiền, Lê Võ, Đặng Tử Kính, Đặng Thái Thân... đều là những hội viên trọng yếu, đảm nhận mọi hoạt động của hội.

Sau khi bàn bạc, hội nghị thành lập hội đã đề ra ba nhiệm trước mắt, đó là: Phát triển thế lực hội về người cũng như về tài chính.

Xúc tiến chuẩn bị bạo động và các công việc khác sau khi khởi phát bạo động.

Xác định phương châm ra nước ngoài cầu viện, và cách thức tiến hành.

Hai khoản trên giao cho toàn thể hội viên đảm đương, còn khoản thứ ba thì ủy thác cho Nguyễn Thành và Phan Bội Châu bàn kín rồi thực hiện, các hội viên khác không được biết.

Và theo Nguyễn Hàm, thì nước Tàu hiện nay quốc thể đã suy hèn, cứu mình không xong thì cứu được ai. Duy nước Nhật Bản là một nước tân tiến ở trong nòi giống da vàng mới đánh được Nga, dã tâm đang hăng lắm. Tới đó, đem hết lợi hại tỏ với nó, tất nó ứng viện cho ta. Nếu nó không xuất binh nữa mà (ta tới) mướn tư lương mua khí giới, tất có thể dễ lắm...[1] Sau đó, việc sang Nhật Bản cầu viện đã được đông đảo hội viên tán thành.

*Sang Nhật Bản cầu viện:

Ngày 20 tháng Giêng năm Ất Tỵ (23/2/1905), Phan Bội Châu, Đặng Tử Kính, Tăng Bạt Hổ (một thành viên cũ của phong trào Cần Vương, làm người dẫn đường) xuống tàu thủy tại Hải Phòng, theo đường biển bí mật sang Quảng Đông, Hồng Kông, Thượng Hải rồi đi tới Yokohama, Nhật Bản. Đến nơi Phan Bội Châu gửi thư xin gặp Lương Khải Siêu, một nhà cách mạng người Trung Quốc. Trong cuộc bút đàm, Lương Khải Siêu khuyên Phan Bội Châu không tìm cách cầu ngoại viện (nhất là không nên đem quân đội Nhật vào nước) để lấy lại độc lập; mà nên chú trọng việc giáo dục và thức tỉnh nhân dân trong nước trước, khi có thời cơ tốt thì ai nấy đều đã sẵn sàng để làm cuộc nổi dậy...

Sau đó, Lương Khải Siêu còn giới thiệu Phan Bội Châu với hai nhân vật quan trọng của Đảng Tiến Bộ đang cầm quyền ở Nhật Bản, là Bá tước Okuma Shigenobu và Chính khách Inukai Tsuyoshi để xin chính phủ Nhật giúp đỡ Việt Nam đánh đuổi Pháp. Nhưng hai người này cho rằng thời điểm đó chưa thích hợp để Nhật có thể giúp đỡ về quân sự, chỉ khuyên Phan Bội Châu đưa Cường Để sang Nhật , viết sách báo để tranh thủ sự đồng tình của dư luận thế giới, đồng thời cổ động thanh niên sang Nhật học tập để chờ đợi thời cơ. Sau khi bị Nhật Bản từ chối giúp đỡ binh lực cho hội, Phan Bội Châu đã chuyển hướng từ "cầu viện" sang "cầu học". Tháng 6 năm Ất Tỵ (1906), Phan Bội Châu và Đặng Tử Kính mang một số sách "Việt Nam vong quốc sử" bí mật về nước.

Phát động phong trào Đông Du

Phan Bội Châu cùng các thành viên nòng cốt trong hội Duy Tân, sau khi bàn bạc đã đề xướng việc lập các hội nông, công, thương, để vừa tập hợp đoàn kết lực lượng, vừa lấy đó làm cơ sở kêu gọi thanh niên xuất dương và là cơ quan tài chính giúp đỡ phong trào Đông Du.

Song song với các hoạt động trên, các thành viên của phong trào còn sáng tác nhiều thơ ca yêu nước như: "Hải ngoại huyết thư", "Việt Nam Quốc sử khảo", "Tân Việt Nam", "Sùng bái giai nhân" (Phan Bội Châu), "Viễn hải quy hồng" (Nguyễn Thượng Hiền), "Kính cáo toàn quốc" (Cường Để), v.v...gửi về nước tuyên truyền cổ động nhân dân hưởng ứng phong trào.

Vì vậy, sau khi phát động, phong trào Đông Du đã được đông đảo người dân ở cả ba kỳ tham gia và ủng hộ, nhất là ở Nam Kỳ. Ở Nam Kỳ, phong trào Đông Du đã nhận được sự giúp đỡ rất tích cực của tri phủ Trần Chánh Chiếu. Ông này đã lập ra khách sạn Nam Trung để làm nơi gặp gỡ của nhưng người yêu nước, lập Minh Tân công nghệ xã, để vừa chấn hưng công-thương-nghiệp, vừa để có tiền ủng hộ phong trào Đông Du. Ngoài ra, với vai trò là chủ bút tờ Nông cổ mín đàm và Lục tỉnh tân văn, ông còn cho đăng báo những bài có tư tưởng chống Pháp. Nhiều nhân sĩ khác ở đây cũng tích cực tham gia và hết lòng lo cho sự nghiệp chung như Đặng Thúc Liêng, Nguyễn Thần Hiến, Nguyễn An Khương, Bùi Chí Nhuận, Đặng Minh Chương,.... Tháng 10 năm 1905, Phan Bội Châu trở lại Nhật Bản cùng với 3 thanh niên (Nguyễn Thức Canh, Nguyễn Điền, Lê Khiết), sau đó lại có thêm 5 người nữa (trong đó có hai anh em Lương Ngọc Quyến, Lương Nhị Khanh và Nguyễn Văn Điến). Năm 1906, Cường Để qua Nhật, được bố trí vào học Trường Quân sự Tokyo (Đông Kinh Chấn Võ Học Hiệu) cùng với Lương Ngọc Quyến. Kể từ đó cho đến năm 1908, số học sinh sang Nhật du học lên tới khoảng 200 người, hầu hết đều vào học tại trường Đông Á Đồng Văn thư viện - một trường của Nhật tại tô giới của Nhật ở Thượng Hải (Trung Quốc), sinh hoạt chung trong một tổ chức có quy củ gọi là Cống hiến hội…

*Tổ chức Cống hiến hội:

Tại trường Chấn Võ và Đông Á đồng Văn thư viện, lưu học sinh Việt Nam được phiên chế vào các ban ngành chuyên môn. Buổi sáng học văn hóa, buổi chiều học các tri thức quân sự và luyện tập ở thao trường. Để tăng cường quản lý học sinh, giữa năm 1907, Phan Bội Châu tổ chức Việt Nam Cống hiến hội (gọi tắt là Cống hiến hội), cử Cường Để làm Hội trưởng và ông (Phan Bội Châu) làm Tổng lý kiêm Giám đốc trực tiếp chỉ đạo tổ chức này.

Hội có 4 bộ lớn, mỗi bộ có 3 đại biểu của Bắc-Trung-Nam, đó là:

-Bộ Kinh tài chuyên trách việc thu chi; gồm các ủy viên Đặng Tử Kính, Đặng Bỉnh Thành, Phạm Chấn Yêm.

-Bộ Kỷ luật chuyên theo dõi ưu khuyết và thưởng phạt học sinh; gồm các ủy viên Đàm Kỳ Sinh, Phan Bá Ngọc, Hoàng Quang Thành.

-Bộ Giao tế phụ trách việc giao thiệp với người nước ngoài và đưa đón người trong nước ra, gồm các ủy viên Phan Thế Mỹ, Nguyễn Thái Bạt, Lâm Quảng Trung.

-Bộ văn thư chuyên trách việc giấy tờ đi lại, phát hành và lưu trữ các văn kiện; gồm các ủy viên Hoàng Trọng Mậu, Đặng Ngô Lân và Hoàng Hưng. Ngoài ra, còn có cục Kiểm tra để giám sát nhân viên các bộ trên trong khi thừa hành nghiệp vụ; gồm các ủy viên Lương Nhập Nham, Trần Hữu Công và Nguyễn Diễn.

*Phong trào tan rã:

Lúc bấy giờ, các cuộc vận động duy tân ở trong nước của các tổ chức Duy Tân hội, phong trào Duy Tân (phát động năm 1906) và Đông Kinh nghĩa thục (thành lập tháng 3 năm 1907) đã tạo nên một không khí cách mạng về dân trí rất sôi nổi.

Phong trào Đông Du cũng đã và đang lan rộng khắp Bắc, Trung, Nam; và việc học tập của lưu học sinh ở Nhật cũng đã ổn định và đang phát triển thuận lợi. Tháng 3 năm 1908, phong trào "cự sưu khất thuế" (tức phong trào chống sưu thuế Trung Kỳ) nổi lên rầm rộ ở Quảng Nam, rồi nhanh chóng lan ra các tỉnh khác. Bị thực dân Pháp đưa quân đàn áp, nhiều hội viên trong phong trào Duy Tân và Duy Tân hội bị bắt, trong số đó có Nguyễn Hàm, một yếu nhân của hội. Đang khi ấy ở Nam Kỳ, Trần Chánh Chiếu (một trong số người tích cực ủng hộ Phong trào Đông Du ở Nam Kỳ) lại cho đăng những bài có tư tưởng chống Pháp. Vì thiếu chứng cớ, chính quyền thực dân không thể kết án ông, nhưng kể từ đó nhiều người cùng hoạt động với ông, họ bí mật khủng bố. Thêm một cái cớ nữa để thực dân ra sức đàn áp, đó là vào tháng 3 năm 1908, các phụ huynh của du học sinh ở Nam Kỳ lại gửi thư công khai theo đường bưu điện cho Phan Bội Châu nhắn là cử người về nhận tiền quyên góp. Hay tin, thực dân Pháp bèn bố trí người và bắt được Hoàng Quang Thành và Đặng Bỉnh Thành cùng với mọi giấy tờ, khi tàu vừa cặp bến Sài Gòn. Lập tức, các phụ huynh bị buộc phải gọi các con em đang du học tại Nhật về, các hội buôn có díu líu đến phong trào bị khám xét và những người có liên quan đều bị bắt bớ...

Tháng 6 năm đó, lại xảy ra vụ Hà thành đầu độc khiến chính quyền thực dân càng ra sức đàn áp các phong trào và tổ chức cách mạng Việt Nam. Đặc biệt, để làm tan rã phong trào Đông Du, Pháp còn ký với Nhật hiệp ước vào tháng 9 năm 1908. Theo đó, Pháp cho Nhật vào Việt Nam mua bán; đổi lại, Nhật sẽ không cho các nhà cách mạng và lưu học sinh Việt Nam ở Nhật nữa.

Sau khi cử cảnh sát đến trường Đông Á đồng văn thư viện để giải tán tất cả các học sinh người Việt, tháng 3 năm 1909, Cường Để và Phan Bội Châu cũng bị trục xuất. Đến đây, phong trào Đông Du mà Phan Bội Châu và Duy Tân hội đã dày công xây dựng hoàn toàn tan rã, kết thúc một hoạt động quan trọng của hội.

3) Một số hoạt động tiêu biểu khác:

*Thành lập Duy Tân hội

Phan Bội Châu đả kích việc thực dân Pháp cấm giảng dạy lịch sử Việt Nam mà thay vào đó là lịch sử Pháp. Đào tạo ra một tầng lớp công chức và chuyên viên phục vụ cho nền cai trị và công cuộc khai thác thuộc địa của Pháp.

Năm 1905, Phan Bội Châu chỉ trích nền giáo dục của thực dân Pháp ở thuộc địa là “chỉ dạy người Việt viết văn Pháp, nói tiếng Pháp, tạm thời làm nô lệ cho Pháp”.

Năm 1904, ông cùng Nguyễn Hàm và khoảng 20 đồng chí khác thành lập Duy Tân hội ở Quảng Nam để đánh đuổi Pháp, chọn Kỳ Ngoại hầu Cường Để – một người thuộc dòng dõi nhà Nguyễn – làm hội chủ.

Mục đích của hội là đánh Pháp, giành lại độc lập cho tổ quốc, thành lập thiết chế quân chủ lập hiến - theo đó vua có danh mà không có quyền. Hội nghị thành lập Duy Tân hội đề ra 3 nhiệm vụ trước mắt như sau:

+Phát triển thế lực hội về người cũng như về tài chính.

+Xúc tiến việc chuẩn bị bạo động và các công việc sau đó.

+Chuẩn bị xuất dương cầu viện, xác định phương châm và thủ đoạn xuất dương.

Trong ba nhiệm vụ trên, thì nhiệm vụ thứ ba hết sức quan trọng và bí mật, nên Duy Tân hội đã cử Phan Bội Châu và Nguyễn Hàm tự định liệu. Theo đó, đây là tiền đề cho phong trào Đông Du sau này.

*Hoạt động ở Trung Quốc:

Hoạt động của Phan Bội Châu tại Trung Quốc là một chương dài và phức tạp nhất trong cuộc đời bôn ba của ông (kéo dài khoảng 20 năm, xen kẽ với thời gian ở Nhật và Xiêm).

Sau khi phong trào Đông Du tan rã và bị trục xuất khỏi Nhật Bản, Phan Bội Châu sang Trung Quốc đúng lúc Cách mạng Tân Hợi (1911)bùng nổ. Chứng kiến sự sụp đổ của nhà Thanh, ông dứt khoát từ bỏ tư tưởng quân chủ lập hiến để theo đuổi lý tưởng Dân chủ Cộng hòa. Tại Quảng Châu, ông tập hợp các đồng chí cũ để thành lập tổ chức mới là Việt Nam Quang Phục Hội ( 15/05/1912).

Mặc dù thay đổi tôn chỉ nhưng Phan Bội Châu vẫn duy trì Kỳ Ngoại hầu Cường Để trong vai trò Chủ tịch Chính phủ lâm thời Việt Nam Quang phục Hội, nhằm tranh thủ sự ủng hộ của nhân dân trong nước.

Sau đó, Việt Nam Quang phục Hội cử một số hội viên về nước để trừ khử một vài viên chức Pháp và cộng sự đắc lực của họ, nhằm "đánh thức đồng bào", "kêu gọi hồn nước". Các cuộc bạo động bằng tạc đạn tuy xảy ra lẻ tẻ nhưng vẫn khuấy động được dư luận trong và ngoài nước, làm nhà cầm quyền Pháp tăng cường khủng bố, khiến nhiều người bị bắt và bị giết. Bị kết tội chủ mưu, Phan Bội Châu và Cường Để bị thực dân Pháp cùng với Nam triều kết án tử hình vắng mặt.

Năm 1913, thực dân Pháp cử người đến Quảng Đông "mặc cả" với Tổng đốc Long Tế Quang yêu cầu bắt Phan Bội Châu và các yếu nhân của hội. Ngày 24 tháng 12 năm 1913, Phan Bội Châu bị bắt. Nhưng nhờ Nguyễn Thượng Hiền, lúc bấy giờ đang ở Bắc Kinh, vận động nên Long Tế Quang không thể giao nộp ông cho Pháp mà chỉ đưa giam vào nhà tù Quảng Đông, mãi đến tháng 2 năm 1917, ông mới được giải thoát.

Ra tù, Phan Bội Châu lại tiếp tục hoạt động cách mạng. Năm 1922, phỏng theo Trung Quốc Quốc dân Đảng của Tôn Trung Sơn, ông định cải tổ Việt Nam Quang phục Hội thành Việt Nam Quốc dân Đảng. Được Nguyễn Ái Quốc (lúc này đang làm Ủy viên Đông phương bộ, phụ trách Cục phương Nam của Quốc tế cộng sản) góp ý, Phan Bội Châu định thay đổi đường lối theo hướng xã hội chủ nghĩa, nhưng chưa kịp cải tổ thì ông bị bắt cóc ngày 30 tháng 6 năm 1925.

*Hoạt động viết sách và tuyên truyền tinh thần yêu nước:

-Mục đích: Thức tỉnh ý thức dân tộc, khơi dậy tinh thần yêu nước, chống lại ách cai trị của thực dân Pháp và kêu gọi nhân dân đoàn kết, hành động.

-Các tác phẩm nổi bật:

"Việt Nam vong quốc sử" (1905): Viết tại Nhật Bản, cuốn sách ghi lại tình cảnh nước mất nhà tan, tội ác của Pháp và kêu gọi nhân dân đứng lên cứu nước.

"Hải ngoại huyết thư" (1906): Được ví như lá thư viết bằng máu từ nước ngoài gửi về, thúc giục thanh niên Việt Nam đi du học (Đông Du) để tìm con đường mới.

Các bài hịch, bài ca: Như bài hịch "Bình Tây thu Bắc" (1883) viết từ sớm để cổ vũ khởi nghĩa, cùng các bài thơ, bài báo tuyên truyền tư tưởng duy tân, độc lập.

-Phương thức tuyên truyền:

Báo chí & Sách: Viết và xuất bản sách ở nước ngoài (Nhật Bản, Trung Quốc) rồi bí mật chuyển về nước.

Diễn thuyết & Tổ chức: Kết hợp viết sách với việc đi diễn thuyết, vận động các sĩ phu, thanh niên yêu nước tham gia Duy Tân hội và phong trào Đông Du.

-Ý nghĩa: Những hoạt động này đã thức tỉnh hàng nghìn thanh niên, sĩ phu yêu nước, tạo ra một phong trào cách mạng theo khuynh hướng dân chủ tư sản sôi nổi ở đầu thế kỷ XX.

Hoạt động văn chương của Phan Bội Châu không chỉ mang giá trị văn học mà còn là vũ khí chính trị quan trọng bậc nhất trong giai đoạn đầu thế kỷ XX.

4) Khi Phan Bội Châu bị bắt và những năm cuối đời:

Năm 1925, Phan Bội Châu bị thực dân Pháp bắt cóc tại Thượng Hải (Trung Quốc), một sự kiện chấn động làm bùng nổ phong trào đấu tranh đòi ân xá rầm rộ của nhân dân cả nước, buộc Pháp phải tha bổng nhưng giam lỏng ông tại Huế. Trong những năm cuối đời (1926-1940), dù sống cảnh "cá chậu chim lồng", bị mật thám rình rập, ông vẫn giữ vững phẩm cách cao khiết, miệt mài viết văn, làm thơ tuyên truyền lòng yêu nước, trở thành biểu tượng tinh thần lớn lao cho thế hệ thanh niên lúc bấy giờ.

- Tình cảnh khi bị bắt: Ngày 30/6/1925, trên đường từ Hàng Châu sang Quảng Đông, Phan Bội Châu bị mật thám Pháp bắt cóc. Kẻ thù định thủ tiêu ông nhưng âm mưu bị bại lộ.

- Thái độ của nhân dân: Vụ bắt giữ gây chấn động, tạo nên làn sóng phẫn nộ trong cả nước. Nhân dân, học sinh, sinh viên, báo giới từ Nam ra Bắc đồng loạt gửi điện văn, thỉnh nguyện thư yêu cầu ân xá cho nhà yêu nước, tạo thành phong trào đấu tranh công khai, rộng khắp.

- Thái độ khi bị giam cầm (Giam lỏng tại Huế - Bến Ngự): Dù bị ép phải ngừng hoạt động chính trị, Phan Bội Châu không khuất phục. Ông tự ví mình là "cá chậu chim lồng", giữ trọn khí tiết, tiếp tục viết báo, xuất bản sách, và là chỗ dựa tinh thần, tiếp đón nồng hậu thanh niên, trí thức yêu nước đến thăm.

Những năm cuối đời: Ông sống những ngày tháng cuối cùng trong sự kính trọng của nhân dân, miệt mài gieo mầm lòng yêu nước qua văn thơ cho đến khi qua đời.

5) Cảm nghĩ về Phan Bội Châu:

Trong dòng chảy lịch sử hào hùng của dân tộc Việt Nam, đã có biết bao vị anh hùng dành trọn đời mình cho lý tưởng độc lập và tự do của đất nước. Họ không chỉ là những nhà cách mạng vĩ đại, mà còn là những ngọn đuốc soi đường cho tinh thần yêu nước của các thế hệ mai sau. Trong đó, Phan Bội Châu tồn tại như một biểu tượng to lớn của ý chí kiên cường, bất khuất và khát vọng giải phóng dân tộc những năm đầu thế kỉ XX. Khi tìm hiểu về cuộc đời và các tác phẩm thi ca của ông, ta không chỉ cảm nhận được tầm vóc của một nhà cách mạng lỗi lạc, mà còn thấy được một trái tim luôn cháy bỏng tình yêu quê hương và niềm trăn trở trước vận mệnh đất nước.

Trước hết, không thể phủ nhận rằng Phan Bội Châu là người có ý chí mạnh mẽ và tầm nhìn vượt thời đại. Trong bối cảnh đất nước đang chìm trong ách thống trị của thực dân, nhiều phong trào yêu nước từng bước rơi vào bế tắc, ông đã mạnh dạn tìm kiếm một con đường mới để cứu nước. Không dừng lại ở tư tưởng trung quân ái quốc truyền thống, ông biết rằng muốn giành lại độc lập thì dân tộc phải có tri thức và sức mạnh. Điều đó đã thể hiện khát vọng mạnh mẽ và niềm tin rằng tri thức chính là con đường cốt lõi để giải phóng dân tộc.

Ngoài hoạt động cách mạng, Phan Bội Châu còn sử dụng ngòi bút như một vũ khí tinh thần mạnh mẽ. Thơ văn của ông không phải để ngâm vịnh hay thưởng ngoạn, mà là những lời kêu gọi, những hồi trống thúc giục lòng dân đứng lên vì đất nước.

Dù con đường cách mạng của ông gặp nhiều gian truân và thử thách, đặc biệt là khi cuối đời bị giam lỏng tại Huế, nhưng Phan Bội Châu vẫn giữ vững khí tiết và lòng yêu nước sâu sắc. Nhân dân vẫn gọi ông là “Ông già Bến Ngự”, một hình ảnh vừa giản dị vừa cao quý. Trong những năm tháng bị giam lỏng, ông vẫn luôn đau đáu nỗi lo cho dân nước, không ngừng suy nghĩ về vận mệnh tương lai của đất nước. Dù mục tiêu giải phóng dân tộc chưa thể hoàn thành trong thời đại của ông, nhưng những tư tưởng và tinh thần yêu nước mà ông ươm mầm đã trở thành nguồn cảm hứng sâu sắc cho nhiều thế hệ cách mạng sau này, trong đó có cả vị lãnh tụ vĩ đại của dân tôc - Hồ Chí Minh.

Có thể nói, Phan Bội Châu là hiện thân của tinh thần sống có lý tưởng và dám dấn thân vì lý tưởng ấy. Cuộc đời và sự nghiệp của ông đã để lại một bài học sâu sắc cho mỗi người Việt Nam: cuộc sống chỉ thực sự có ý nghĩa khi con người biết sống vì những giá trị lớn lao, biết đặt lợi ích của dân tộc lên trên lợi ích cá nhân. Tấm gương của ông sẽ mãi là nguồn động lực mạnh mẽ, nhắc nhở thế hệ hôm nay và mai sau phải luôn trân trọng độc lập, tự do và không ngừng nỗ lực xây dựng, bảo vệ quê hương đất nước.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn