SP KHTN - THỦ KHOA NGUYỄN THỦ HUÂN
Khi lật mở những trang sử vàng kháng chiến chống thực dân Pháp của người dân Nam Bộ vào nửa cuối thế kỷ XIX, chúng ta không thể không nghiêng mình kính cẩn trước những sĩ phu yêu nước – những con người đã quyết tâm xếp bút nghiên để cầm gươm ra trận. Trong giai đoạn lịch sử đầy biến động và đau thương ấy, khi triều đình nhà Nguyễn từng bước rệu rã và ký kết các hiệp ước đầu hàng, thì ngọn lửa ái quốc trong lòng nhân dân vẫn rực cháy hơn bao giờ hết.
Một trong những biểu tượng chói lọi nhất, đại diện cho tinh thần bất khuất, “vị quốc vong thân” của miền đất chín rồng chính là Thủ Khoa Huân (tức Nguyễn Hữu Huân). Lý do chúng ta tôn vinh và lựa chọn hình tượng Thủ Khoa Huân không chỉ nằm ở tài năng quân sự xuất chúng hay chiến tích oanh liệt với ba lần đứng lên dựng cờ khởi nghĩa, mà cốt lõi hơn, là bởi lòng kiên trung, khí tiết lẫm liệt trước họng súng quân thù. Dù ngã xuống dưới lưỡi gươm hành quyết của thực dân khi hoài bão cứu quốc còn dang dở, tinh thần kiên cường cùng bài thơ tuyệt mệnh của ông vẫn mãi là tượng đài bất tử trong dòng chảy lịch sử, xứng đáng là một bậc anh hùng dân tộc mẫu mực để thế hệ trẻ hôm nay soi rọi, tự hào và tự răn mình về trách nhiệm đối với non sông.
Nguyễn Hữu Huân sinh năm 1830 tại làng Tịnh Hà, huyện Kiến Hưng, tỉnh Định Tường (ngày nay thuộc tỉnh Đồng Tháp). Ông lớn lên và trưởng thành trong một giai đoạn mà số phận của dân tộc Việt Nam đang đứng trước ngã ba đường đầy nghiệt ngã khi thực dân Pháp nổ súng xâm lược Đà Nẵng năm 1858 rồi tiến vào đánh chiếm thành Gia Định năm 1859, gieo rắc ngọn lửa chiến tranh lên khắp dải đất Nam Kỳ lục tỉnh vốn bình yên.
Trước khi trở thành vị chủ lĩnh nghĩa quân lừng lẫy, ông là một trí thức đại khoa có danh tiếng lừng lẫy khắp vùng khi xuất sắc đỗ Thủ khoa khoa thi Hương tại trường thi Gia Định vào năm 1852 và được triều đình bổ nhiệm làm Giáo thụ ở huyện Kiến Hưng. Trong xã hội phong kiến bấy giờ, danh vị Thủ khoa cùng chức quan Giáo thụ chính là bệ phóng hoàn hảo cho một cuộc sống nhung lụa, vinh hoa phú quý và an nhàn đến cuối đời. Thế nhưng, đứng trước cảnh nước mất nhà tan, nhìn nhân dân lầm than dưới gót giày viễn chinh của kẻ thù, người trí thức Nam Bộ ấy đã từ chối con đường hoạn lộ thênh thang để nghe theo tiếng gọi thiêng liêng của lương tri, quyết định cởi bỏ tấm áo quan trường, khoác lên mình manh áo vải và đứng ra chiêu mộ nghĩa binh kháng Pháp.
Qua cuộc đời đầy thăng trầm nhưng vô cùng oanh liệt của Thủ Khoa Huân, chúng ta được chứng kiến sự hội tụ đầy đủ những phẩm chất cao đẹp nhất của một bậc đại trượng phu, một nhà nho chân chính theo tinh thần "nhập thế". Thủ khoa Huân được ca ngợi như một anh hùng dân tộc mẫu mực. Ông hội tụ nhiều phẩm chất cao đẹp: lòng yêu nước tha thiết, dũng cảm đối mặt quân thù, tinh thần kiên cường bất khuất và sẵn sàng hy sinh vì nghĩa lớn. Các phẩm chất nổi bật của thủ khoa Huân qua các tình tiết trong truyện và bối cảnh lịch sử làm nổi bật nét riêng của ông.
Thủ khoa Huân bộc lộ rõ tính yêu nước sâu sắc khi sẵn sàng từ bỏ con đường quan trường an nhàn để ra sức kháng Pháp. Ngay sau khi thực dân Pháp tấn công Nam Bộ ông “từ bỏ con đường làm quan, trở về quê chiêu mộ nghĩa quân, tham gia phong trào kháng Pháp ở Nam Bộ”. Việc ông rời bỏ chức quan thầy Địa Hạt để trở thành người cầm đầu nghĩa quân đã thể hiện tinh thần sẵn sàng đặt đại nghĩa dân tộc lên trên cả sự nghiệp riêng. Tình yêu nước của ông càng được thắp sáng trong hoàn cảnh đất nước lâm nguy, khi ông đấu tranh không mệt mỏi dù đối mặt với kẻ thù mạnh. Đến cuối đời, Thủ khoa Huân thể hiện tấm lòng trung thành tuyệt đối với Tổ quốc: dù không thành công trong khởi nghĩa, ông vẫn thác thơ tuyệt mệnh với ý chí kiên định: “Tuy công bất tựu, diệc tương nhất tử báo quân ân”. Đó chính là hình ảnh người nho sĩ sẵn sàng hy sinh bản thân vì nghĩa lớn, minh chứng cho tấm lòng yêu nước nồng nàn và ý chí hiến thân của thủ khoa Huân.
Thủ khoa Huân còn là hình mẫu của sự dũng cảm và kiên cường trong kháng chiến. Trước sức mạnh quân địch, ông không hề nao núng. Khi bị bắt vào năm 1863, dù bị giam trong ngục Khổ Sai, ông từ chối mọi sự dụ dỗ và kiên quyết không quy hàng. Hành động ấy chứng tỏ khí phách bất khuất, tinh thần sắt đá: thủ khoa Huân lựa chọn con đường tù đày thay vì cúi đầu van xin ân huệ. Sau khi được ân xá và trở về nước, ông chưa bao giờ bỏ cuộc; ngược lại, ông lại ấp ủ kế hoạch khởi nghĩa lần ba. Dù lần thứ ba không may thất bại, uy tín và tinh thần của ông vẫn khiến rất đông nhân dân tin theo. Văn bản kể rằng các cuộc khởi nghĩa dưới sự lãnh đạo của ông mang tinh thần quật khởi, thể hiện rõ ý chí không khuất phục trước ngoại bang. Điều này cho thấy dù chịu nhiều đòn roi và tù đày, thủ khoa Huân luôn kiên cường vượt qua gian khổ. Sự kiên cường ấy xuất phát từ niềm tin vững chắc vào chính nghĩa, cũng là bài học về lòng nhẫn nại và bất khuất của con người trước nghịch cảnh.
Là người có học thức và đỗ thủ khoa khoa cử, thủ khoa Huân thể hiện tinh thần lãnh đạo đáng ngưỡng mộ. Nhờ danh tiếng người học rộng, đỗ đạt cao, tinh thần chính trực, ông nhanh chóng tập hợp được đông đảo nghĩa sĩ, nông dân đứng lên chống giặc. Cuộc khởi nghĩa lần ba có sự tham gia của nhiều hương chức, hội tề và địa chủ từ Mỹ Tho đến Cai Lậy và đó là minh chứng rõ ràng cho khả năng khích lệ và tập hợp lực lượng của ông. Ông không chỉ là tấm gương chủ lực mà còn trực tiếp chỉ huy và dẫn dắt đồng đội. Hơn nữa, tài trí của ông thể hiện ở khả năng hoạch định chiến lược: ông tận dụng mọi điều kiện thuận lợi, như vị trí giáo thụ ở Chợ Lớn, để liên lạc với sĩ phu yêu nước và chuẩn bị vũ khí cho khởi nghĩa. Bản lĩnh quản lý, tư duy cẩn trọng và đầu óc thông minh ấy phản ánh trí tuệ và tinh thần trách nhiệm cao của một nhân vật lãnh đạo. Ông ý thức rõ nhiệm vụ trọng đại của mình đối với vận mệnh dân tộc, sẵn sàng gánh vác sứ mệnh kháng chiến với trách nhiệm lớn lao. Hình ảnh người đỗ đầu khoa bảng sẵn sàng cầm vũ khí, sống đời nghĩa sỹ, minh họa tinh thần nhập thế của một kẻ sĩ: vừa đầy trí tuệ, vừa dấn thân hết mình vì lợi ích chung, trở thành biểu tượng đẹp của người học trò Nam Bộ cuối thế kỷ XIX.
Về nhân cách, thủ khoa Huân được khắc họa là người luôn giữ trọn khí tiết và trung nghĩa. Trước áp lực và những lời hứa hẹn khi bị bắt, ông không dao động, “giáo thụ trở về nước, liệu cơm gắp mắm để chuẩn bị khởi nghĩa”, và cuối cùng vẫn quyết tâm đánh giặc dù biết hiểm nguy. Việc ông từ chối hết thảy ân huệ để tiếp tục con đường kháng chiến là bằng chứng cho phẩm cách “miệng đời luống để luận trăm năm” nhưng lòng vẫn giữ ngay thẳng. Dù văn bản truyện không miêu tả chi tiết tình cảm cá nhân, có thể hiểu vì sao ông được quần chúng yêu mến: sự hy sinh, tận tụy của ông đã truyền cảm hứng cho đồng đội và nhân dân cùng đứng dậy. Tình cảm với đồng đội và nhân dân tuy không được nêu rõ trong trang viết, nhưng hiển hiện qua sự tín nhiệm và ủng hộ đông đảo mà người dân dành cho cuộc khởi nghĩa. Chính con người liêm khiết, nhân nghĩa ấy giúp thủ khoa Huân trở thành tấm gương mẫu mực, để mỗi hành động của ông – dù là tự chôn chân vào trận địa hay quấn khăn dù chiến sĩ – đều mang ý nghĩa làm sáng lên tinh thần gắn kết giữa lãnh đạo và quần chúng.
Thế nhưng, giữa chốn lao lung tù tội, ông đã dùng thơ văn làm vũ khí chiến đấu sắc bén, viết nên bài thơ "Mang gông" để thể hiện khí phách hiên ngang, coi thường mọi khổ đau và ngạo nghễ cười vào mặt quân thù:
"Thay vai đổi thịt mặc bồng bềnh
Chân dậm bùn lầy dậm cũng kinh
Gánh nặng gian nan còn dở dang
Trách ai làm nổi cuộc linh đinh"
Trở về nước vào năm 1869, thực dân Pháp đưa ông về giao cho chức Giáo thụ ở Chợ Lớn nhằm mua chuộc, dùng bổng lộc kìm kẹp ông dưới sự giám sát của tên tay sai Đỗ Hữu Phương. Nhưng với tư duy cẩn trọng và đầu óc thông minh, ông đã thực hiện kế sách "bề ngoài tỏ ra phục tùng, bên trong ngầm lo đại sự". Ông lợi dụng vị trí hợp pháp để bí mật liên lạc với các sĩ phu yêu nước, quyên góp tiền bạc, tích trữ lương thảo, từ đó khích lệ và tập hợp được một lực lượng mạnh mẽ thu hút đông đảo nghĩa sĩ từ nông dân nghèo cho đến các địa chủ giàu có vùng Mỹ Tho, Tân An sẵn sàng dấn thân vào chốn binh đao.
Trong suốt tiến trình lịch sử kháng chiến chống Pháp tại Nam Kỳ, Thủ Khoa Huân đã ghi dấu ấn đậm nét bằng những chiến công oanh liệt qua ba giai đoạn đấu tranh bền bỉ, kiên cường. Ở cuộc chiến đấu lần thứ nhất (1859 – 1861), ngay khi thực dân Pháp chiếm Định Tường, ông đã chỉ huy nghĩa quân phối hợp chặt chẽ với Thiên Hộ Dương, Trương Định và Nguyễn Trung Trực để tạo thế trận liên hoàn, điển hình là trận phục kích trên kinh Bảo Định và cuộc chiến đấu bảo vệ căn cứ Mỹ Quý. Đến cuộc chiến lần thứ hai (1862 – 1864), sau khi triều đình ký kết Hiệp ước Nhâm Tuất nhượng ba tỉnh miền Đông cho Pháp và ra lệnh giải tán nghĩa binh, ông kiên quyết kháng lệnh để đứng về phía nhân dân, gia nhập nghĩa quân của Bình Tây Đại nguyên soái Trương Định dưới chức Phó Đề đốc, xây dựng các căn cứ Tân Hòa, Bình Cách, Thuộc Nhiêu và liên tục tổ chức đánh úp quấy rối đội hình địch.
Đỉnh cao là cuộc chiến đấu lần thứ ba (1872 – 1875), sau khi trốn khỏi sự giam lỏng ở Chợ Lớn, ông lập tổng hành dinh tại làng Long Trì, vận động nhân dân quyên góp tiền bạc để mua vũ khí hiện đại từ nước ngoài qua tổ chức Thiên Địa Hội. Mặc dù chuyến tàu chở vũ khí sau đó bị địch phát hiện và căn cứ Bình Cách bị quân Pháp huy động pháo binh hạng nặng bao vây tấn công dồn dập, nghĩa quân dưới sự chỉ huy tài tình của ông vẫn kiên cường đánh trả suốt nửa tháng trời trước khi rút về vùng Chợ Gạo.
Vào năm 1875, do sự phản bội của kẻ gian, Thủ Khoa Huân sa vào tay giặc; trước mọi thủ đoạn tra tấn dã man lẫn dụ dỗ bổng lộc cao sang, ông vẫn giữ thái độ ung dung, ngạo nghễ cho đến ngày 19 tháng 5 năm 1875, khi thực dân Pháp đưa ông đi xử chém tại bờ kênh Định Tường. Trước giờ phút hành hình, ông đã chỉnh đốn trang phục và ngâm vang bài thơ tuyệt mệnh gửi lại cho đời:
“Thắng phụ nhung trường bất túc luân
Đồi ba vãn chướng dục hà nhân
Tuy công bất tựu diệc tương tử
Hữu thấu can trường báo quốc ân”
(Theo một bản phiên âm được lưu truyền:
Thắng bại khôn ngoan can hệ chi
Sóng dồn một dải muốn đi đâu
Dẫu công chẳng toại, thân này thác
Gan ruột phơi ra trả nghĩa sâu)
Dù cả ba cuộc khởi nghĩa của Thủ Khoa Huân đều chưa đi đến thắng lợi cuối cùng do sự chênh lệch quá lớn về vũ khí và sự hạn chế của lịch sử thời bấy giờ, nhưng cuộc đời và sự hy sinh của ông đã để lại những bài học kinh nghiệm xương máu vô giá cùng nguồn cảm hứng bất tận cho các thế hệ mai sau. Ông mang đến bài học lớn về lý tưởng sống, danh dự và lòng tự trọng khi chứng minh một chân lý sâu sắc rằng giá trị đích thực của một con người không nằm ở chỗ nắm giữ chức tước hay tiền tài, mà được đo bằng những gì anh ta đã cống hiến, hy sinh cho sự bình yên và độc lập của Tổ quốc.
Câu chuyện về cuộc đời ông chính là bài học lịch sử bằng xương bằng thịt, giúp biến "lòng biết ơn" thành "hành động thực tiễn" để nhắc nhở thế hệ trẻ hôm nay rằng nền hòa bình hiện tại được đổi bằng máu và nước mắt, từ đó biết trân trọng cuộc sống, lấy lòng biết ơn làm động lực để học tập và rèn luyện. Đặc biệt, tinh thần "Thủ khoa" của ông không chỉ dừng lại ở một danh vị khoa bảng phong kiến, mà nó đại diện cho trí tuệ đỉnh cao, tư duy dẫn đầu và khát vọng chinh phục tri thức, lời hiệu triệu khích lệ học sinh, sinh viên ngày nay không ngừng tự học, dấn thân vào những lĩnh vực mới, dám bước ra khỏi vùng an toàn để trở thành những "thủ khoa" trong cuộc đời riêng của mình, góp phần đưa đất nước vươn tầm thế giới.
Nhìn lại hành trình 45 năm cuộc đời ngắn ngủi nhưng đầy vinh quang và trọn vẹn nghĩa tình của Anh hùng dân tộc Thủ Khoa Huân, chúng ta càng thêm thấu thía chân lý ngàn đời của dân tộc: "Chết vinh còn hơn sống nhục", "Chết đứng còn hơn sống quỳ". Sự hy sinh của ông trên mảnh đất quê hương Tiền Giang vào một ngày tháng Năm lịch sử không phải là sự chấm dứt, mà là một sự tái sinh huy hoàng vào lòng dân tộc, hóa thân thành hồn thiêng sông núi và trở thành một tượng đài bất tử trong tâm thức của nhân dân cả nước.
Để khắc ghi tấm lòng son sắt và khí tiết lẫm liệt của ông, người đời sau đã lưu truyền hai câu đối đầy trang trọng treo tại đền thờ ông như một lời khẳng định về một nhân cách vĩ đại:
“Hai chữ công danh, sinh tử chữ công liền chữ tử
Một niềm trung nghĩa, triều đình niềm trung nặng niềm đình”
Trải qua hơn một thế kỷ, giông bão của chiến tranh đã lùi xa, những vết thương trên da thịt đất nước đã lành, nhưng ngọn lửa tinh thần của Thủ Khoa Huân vẫn chưa bao giờ tắt; thế hệ trẻ chúng ta hôm nay xin được kính cẩn nghiêng mình trước anh linh của ông – người thầy giáo mẫu mực, nhà thơ yêu nước và người chiến sĩ kiên trung của mảnh đất Nam Bộ thành đồng, nguyện sống, lao động và học tập hết mình để xứng đáng với dòng máu anh hùng đang chảy trong huyết quản.



