*Quân dân Khu XI (Hà Nội) trong thời kỳ đầu kháng chiến chống thực dân Pháp (từ tháng 10-1946 đến tháng 1-1948) (Phần 1) Xây dựng thế trận trong đánh ngoài vây
Trong lịch sử chống Pháp của quân dân Thủ đô nói riêng, của quân dân cả nước nói chung, Khu XI có một vị trí quan trọng ở thời kỳ đầu cuộc kháng chiến. Do đó, chúng tôi muốn làm sáng rõ thêm những đóng góp của quân dân khu XI từ khi được thành lập đến khi sáp nhập vào Liên khu III (tháng 10/1946 đến tháng 1/1948)
Trong lịch sử chống Pháp của quân dân Thủ đô nói riêng, của quân dân cả nước nói chung, Khu XI có một vị trí quan trọng ở thời kỳ đầu cuộc kháng chiến. Do đó, chúng tôi muốn làm sáng rõ thêm những đóng góp của quân dân khu XI từ khi được thành lập đến khi sáp nhập vào Liên khu III (tháng 10/1946 đến tháng 1/1948)
* Xây dựng thế trận trong đánh ngoài vâySau khi ký Tạm ước 14/9/1946 với Chính phủ Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng nhận định: "Nhất định không sớm thì muộn, Pháp sẽ đánh mình và mình cũng nhất định phải đánh Pháp", do đó Đảng, Chính phủ đã lãnh đạo toàn dân gấp rút chuẩn bị kháng chiến.Sau Hội nghị Quân sự toàn quốc (19/10/1946), thi hành quyết định của Trung ương, cả nước chia thành 12 chiến khu (sau đó thường gọi tắt là khu), trong đó, Bắc Bộ có ba chiến khu I, II, III, X, XII. Khu đặc biệt Hà Nội được gọi là Chiến khu XI. Hà Đông, Sơn Tây nằm trong Chiến khu II. Ở Hà Nội, đồng chí Nguyễn Văn Trân được cử làm Bí thư khu uỷ kiêm Chủ tịch Uỷ ban bảo vệ khu XI, đồng chí Lê Quang Đạo là Phó Bí thư, đồng chí Vương Thừa Vũ được cử làm Chỉ huy trưởng Mặt trận khu XI. Sự kiện này đã được đồng chí Vương Thừa Vũ ghi trong sách “Hà Nội 60 ngày khói lửa”: “Tháng 11 năm 1946, không khí Thủ đô Hà Nội vô cùng căng thẳng. Giữa lúc ấy, tại ngôi nhà ở gần đầu cầu (về phía Hà Nội) của thị xã Hà Đông, có một cuộc họp quan trọng… Đồng chí Trường Chinh nói: “Giặc Pháp chuẩn bị gấp rút lắm, trước sau thế nào nó cũng đánh ta. Trung ương giao cho đồng chí Vương Thừa Vũ làm Khu trưởng khu XI (Khu Hà Nội), tổ chức chuẩn bị sẵn sàng đề phòng chúng trở mặt gây chiến”(…). Bảy ngày sau, 19/11/1946, tại Lò Lợn, trụ sở của cơ quan chỉ huy Khu XI, đồng chí Lê Quảng Ba nguyên chỉ huy trưởng của Khu, chính thức bàn giao nhiệm vụ”(1). Chiến khu XI chính thức được ra đời. Trung ương Đảng và Bộ tổng chỉ huy giao nhiệm vụ quan trọng cho khu uỷ và Ban chỉ huy mặt trận khu XI là: giành thế chủ động, chiến đấu tiêu hao và giam chân địch trong thành phố ít nhất là một tháng, tạo điều kiện cho cả nước đi vào cuộc kháng chiến lâu dài, đồng thời tạo điều kiện cho Trung ương Đảng và Chính phủ rút lên chiến khu Việt Bắc an toàn.Thực hiện nhiệm vụ chiến lược trên, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Trung ương Đảng, Khu uỷ và Ban chỉ huy khu XI đã gấp rút chuẩn bị mọi mặt cho cuộc Tổng giao chiến như Đại tướng Võ Nguyên Giáp viết trong tác phẩm Chiến đấu trong vòng vây - giữa ta và thực dân Pháp trên Mặt trận Hà Nội: “Trận đánh ở Thủ đô nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa phải tiêu biểu cho tinh thần kháng chiến của cả nước.”Ngay trong tháng 11, các cơ quan Trung ương và thành phố, các nhà máy, xí nghiệp tiến hành công tác "tổng di chuyển" , đưa máy móc, hồ sơ kỹ thuật lên Việt Bắc để tiếp tục sản xuất. Nhân dân cũng được tản cư theo kế hoạch của Uỷ ban tản cư thành phố ra Hà Đông, lên Sơn Tây, Vĩnh Yên, sang Hưng Yên, Bắc Ninh... đảm bảo tính mạng của cả gia đình khi rời xa thành phố. Cán bộ, đảng viên, tự vệ và đông đảo nhân dân khu XI đã tham gia vận chuyển máy móc, kho tàng, nguyên vật liệu, hồ sơ từ nội thành theo các tuyến đường số 11, số 6, số 21 lên Hoà Bình, Phú Thọ, Việt Bắc; đồng thời giúp đỡ bà con nội thành tản cư chỗ ăn ở, nhường cơm sẻ áo trong lúc hoạn nạn, khó khăn. Các làng Vạn Phúc, Xuyên Dương, Hậu Ái, Cần Kiệm, Chúc Sơn... là nơi các cơ quan Trung ương và thành phố đặt trụ sở làm việc chỉ đạo cuộc kháng chiến của khu XI. Cuối tháng 11/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã rời nội thành về làm việc tại làng Hậu Ái, xã Thọ Nam (nay là xã Vân Canh, Hoài Đức).
Chỉ thị của Chính phủ về cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, ngày 20-12-1946Đến cuối tháng 11, Mặt trận Hà Nội chia thành ba Liên khu I, II, III theo thế trận "trong đánh ngoài vây, trong ngoài cùng đánh". Do đó lực lượng vũ trang trong thành phố có 5 tiểu đoàn Vệ quốc đoàn với 2.500 cán bộ chiến sĩ, 4 trung đội pháo binh đóng ở 4 pháo đài (Láng, Xuân Tảo, Xuân Canh, Thổ Khối) và 9.000 Tự vệ thành, Tự vệ xí nghiệp, 7 trung đội Tự vệ chiến đấu Hoàng Diệu với 400 đội viên và Trung đội Công an xung phong có nhiệm vụ phối hợp với Vệ quốc đoàn bảo vệ các vị trí quan trọng ở ba liên khu nội thành theo cách bố trí lực lượng độc đáo do chính đồng chí Vương Thừa Vũ đề xuất với Bộ Tổng chỉ huy: “Tiểu đoàn 101 trụ ở Liên khu I như hạt nhân; quân địch ở bao quanh như cùi; bốn tiểu đoàn (77; 212;145;523) bọc xung quanh như vỏ. Ý định phòng thủ Hà Nội vô cùng độc đáo ấy được Trung ương trực tiếp chỉ đạo và Bộ chỉ huy mặt trận Hà Nội tiến hành, kẻ địch không bao giờ nghĩ tới” (2)12 Đội cảm tử được thành lập ở nội thành để đánh xe tăng địch. Các làng xã ngoại thành đều tổ chức đại đội tự vệ với vũ khí thô sơ.Hà Đông có trung đoàn Vệ quốc đoàn 35 và 37 bảo vệ vòng ngoài - đứng chân trên các cửa ô phía tây và tây bắc thành phố. Trung đoàn 56 từ thị xã Hà Đông được lệnh hành quân vào nội thành để chi viện cho liên khu II và III. Đầu tháng 12/1946 các huyện Từ Liêm, Hoài Đức, Đan Phượng, Thanh Trì đều có một trung đội Quyết tử quân, sẵn sàng chiến đấu. Các khu căn cứ ở Ba Vì thuộc Chiến khu II - hậu phương của mặt trận Hà Nội cũng được xây dựng để chuẩn bị cho Trung ương rút lên Việc Bắc theo bến Trung Hà.Trong nội thành tự vệ đào hào, đắp ụ, đục tường từ nhà nọ sang nhà kia thành thế trận liên hoàn. Đến trung tuần tháng 12, về cơ bản, mọi công việc chuẩn bị đã hoàn thành. Ngày 15/12/1946, Khu uỷ và Ban chỉ huy Mặt trận khu XI họp kiểm điểm và bổ khuyết kế hoạch sẵn sàng chiến đấu. Ngày 16/12/1946, Vệ quốc quân làm lễ tuyên thệ "Quyết tử để bảo vệ Thủ đô". Ngày 17/12/1946, thực dân Pháp tiến công tự vệ, tàn sát nhân dân phố Hàng Bún, Yên Ninh. Ngày 18/12/1946 chúng đưa tối hậu thư đòi tước vũ khí tự vệ, chiếm Sở Công an Hà Nội, nắm quyền kiểm soát trong thành phố. Tự vệ thành Hoàng Diệu họp bất thường, ra quyết nghị: "Thề sống chết với Thủ đô”. Kế hoạch phá Nhà máy điện Yên Phụ và bắn đại bác từ pháo đài Láng làm hiệu lệnh chiến đấu cho toàn thể quân dân Thủ đô đêm 19/12/1946 đã được phê chuẩn.
Chỉ thị của Chính phủ về cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, ngày 20-12-1946Đến cuối tháng 11, Mặt trận Hà Nội chia thành ba Liên khu I, II, III theo thế trận "trong đánh ngoài vây, trong ngoài cùng đánh". Do đó lực lượng vũ trang trong thành phố có 5 tiểu đoàn Vệ quốc đoàn với 2.500 cán bộ chiến sĩ, 4 trung đội pháo binh đóng ở 4 pháo đài (Láng, Xuân Tảo, Xuân Canh, Thổ Khối) và 9.000 Tự vệ thành, Tự vệ xí nghiệp, 7 trung đội Tự vệ chiến đấu Hoàng Diệu với 400 đội viên và Trung đội Công an xung phong có nhiệm vụ phối hợp với Vệ quốc đoàn bảo vệ các vị trí quan trọng ở ba liên khu nội thành theo cách bố trí lực lượng độc đáo do chính đồng chí Vương Thừa Vũ đề xuất với Bộ Tổng chỉ huy: “Tiểu đoàn 101 trụ ở Liên khu I như hạt nhân; quân địch ở bao quanh như cùi; bốn tiểu đoàn (77; 212;145;523) bọc xung quanh như vỏ. Ý định phòng thủ Hà Nội vô cùng độc đáo ấy được Trung ương trực tiếp chỉ đạo và Bộ chỉ huy mặt trận Hà Nội tiến hành, kẻ địch không bao giờ nghĩ tới” (2)12 Đội cảm tử được thành lập ở nội thành để đánh xe tăng địch. Các làng xã ngoại thành đều tổ chức đại đội tự vệ với vũ khí thô sơ.Hà Đông có trung đoàn Vệ quốc đoàn 35 và 37 bảo vệ vòng ngoài - đứng chân trên các cửa ô phía tây và tây bắc thành phố. Trung đoàn 56 từ thị xã Hà Đông được lệnh hành quân vào nội thành để chi viện cho liên khu II và III. Đầu tháng 12/1946 các huyện Từ Liêm, Hoài Đức, Đan Phượng, Thanh Trì đều có một trung đội Quyết tử quân, sẵn sàng chiến đấu. Các khu căn cứ ở Ba Vì thuộc Chiến khu II - hậu phương của mặt trận Hà Nội cũng được xây dựng để chuẩn bị cho Trung ương rút lên Việc Bắc theo bến Trung Hà.Trong nội thành tự vệ đào hào, đắp ụ, đục tường từ nhà nọ sang nhà kia thành thế trận liên hoàn. Đến trung tuần tháng 12, về cơ bản, mọi công việc chuẩn bị đã hoàn thành. Ngày 15/12/1946, Khu uỷ và Ban chỉ huy Mặt trận khu XI họp kiểm điểm và bổ khuyết kế hoạch sẵn sàng chiến đấu. Ngày 16/12/1946, Vệ quốc quân làm lễ tuyên thệ "Quyết tử để bảo vệ Thủ đô". Ngày 17/12/1946, thực dân Pháp tiến công tự vệ, tàn sát nhân dân phố Hàng Bún, Yên Ninh. Ngày 18/12/1946 chúng đưa tối hậu thư đòi tước vũ khí tự vệ, chiếm Sở Công an Hà Nội, nắm quyền kiểm soát trong thành phố. Tự vệ thành Hoàng Diệu họp bất thường, ra quyết nghị: "Thề sống chết với Thủ đô”. Kế hoạch phá Nhà máy điện Yên Phụ và bắn đại bác từ pháo đài Láng làm hiệu lệnh chiến đấu cho toàn thể quân dân Thủ đô đêm 19/12/1946 đã được phê chuẩn.


