sự hi sinh to lớn và tình yêu thương, lòng yêu nước của Mẹ Nguyễn Thị Thứ
người đã mất nhiều người thân trong chiến tranh, qua đó ca ngợi những người mẹ Việt Nam Anh hùng và nhắc nhở thế hệ trẻ biết ơn, trân trọng hòa bình.
Tôi vẫn nhớ như in buổi chiều hôm ấy, khi tôi – một đứa trẻ sinh sau chiến tranh – được dẫn đến ngôi nhà tranh đơn sơ ở thôn Thanh Quýt, Điện Thắng Trung, Quảng Nam. Trước mặt tôi là Mẹ Nguyễn Thị Thứ, người phụ nữ nhỏ bé nhưng ánh mắt sáng quắc, giọng nói chậm rãi mà chắc nịch. Mẹ đã ngoài trăm tuổi, nhưng ký ức về những năm tháng bom đạn vẫn rõ mồn một, như thể thời gian chưa từng trôi qua.
Mẹ kể, giọng trầm ấm xen lẫn nỗi đau: “Mẹ sinh được 12 người con, 11 trai một gái. Từ những năm kháng chiến chống Pháp, mẹ đã đào hầm trong vườn, nuôi giấu cán bộ, du kích ngay giữa lòng địch. Đêm đêm, mẹ thức trắng để canh chừng, sợ tiếng trẻ con khóc làm lộ đồng đội. Rồi đến chống Mỹ, các con mẹ lớn lên, cái nào cũng đòi đi bộ đội. Mẹ không giữ, vì giữ con thì mất nước. Mẹ chỉ dặn: ‘Con đi đánh giặc, nhớ giữ gìn sức khỏe, đừng để mẹ chờ’.”
Mẹ ngậm ngùi kể về những lần tiễn con. Lần đầu, con trai cả lên đường, mẹ cười tiễn, dặn dò đủ điều. Rồi lần thứ hai, thứ ba… đến lần thứ mười bốn. Mỗi lần tiễn là một lần mẹ giấu nước mắt vào trong. Có đứa con hy sinh ngay trận đầu, có đứa mất tích giữa rừng sâu. Giấy báo tử đến nhà mẹ liên tiếp, chín lần nhận giấy báo tử cho chín người con trai. Rồi thêm con rể, hai cháu ngoại cũng ngã xuống. Tổng cộng 12 liệt sĩ từ một mái nhà. Mẹ bảo: “Mẹ không khóc to, vì khóc to thì đồng đội nghe, kẻ thù biết. Mẹ chỉ khóc thầm mỗi đêm, rồi sáng ra lại cười với những đứa con còn lại, động viên chúng tiếp tục.”
Tôi hỏi Mẹ: “Mẹ có hối hận không?”. Mẹ lắc đầu, mắt nhìn xa xăm: “Hối hận gì chứ con? Nếu giữ con ở nhà, đất nước này còn không? Mẹ chỉ tiếc là không được nhìn các con lớn lên, không được ôm cháu nội cháu ngoại. Nhưng mẹ tự hào, vì các con đã sống xứng đáng với non sông. Giờ hòa bình rồi, mẹ vẫn giữ những kỷ vật: chiếc ba lô rách, lá thư nhàu nát, và những tấm ảnh đen trắng của các con. Mỗi tối, mẹ thắp hương, kể chuyện cho chúng nghe như ngày xưa.”
Nghe Mẹ kể, tôi thấy lòng mình nặng trĩu. Thế hệ chúng tôi chưa từng biết mùi khói súng, chưa từng nghe tiếng bom rơi, nhưng nhờ những người như Mẹ Thứ, chúng tôi được sống trong hòa bình. Mẹ không phải anh hùng cầm súng, nhưng Mẹ là người mẹ đã hy sinh cả máu thịt của mình để đổi lấy tự do cho dân tộc.
Hôm nay, khi nhìn tượng đài Bà mẹ Việt Nam Anh hùng ở Quảng Nam – lấy nguyên mẫu từ gương mặt Mẹ Thứ – tôi hiểu rằng, đó không chỉ là bức tượng đá. Đó là nỗi đau, là tình yêu, là sức mạnh của hàng triệu người mẹ Việt Nam thời hoa lửa. Cảm ơn Mẹ, và cảm ơn tất cả những Nhân chứng lịch sử như Mẹ, đã để thế hệ trẻ chúng tôi được học cách sống có trách nhiệm với đất nước.



