Sự hình thành nghĩa quân Lam Sơn (1416–1418)
Khởi nghĩa Lam Sơn

Lê Lợi vốn là phụ đạo[d] Lam Sơn, nối đời làm hào trưởng tại đây. Lam Sơn là một hương thuộc huyện Lương Giang, phủ Thanh Hóa, nằm trong vùng đồi núi thấp, xen lẫn với những khu rừng thưa và cánh đồng hẹp.[47] Khu vực này có lượng dân cư thưa thớt, là nơi người Kinh và người Trại cùng chung sống.[48] Về hoạt động của Lê Lợi trong thời gian nhà Hậu Trần khởi binh chống Minh, các sử liệu sơ cấp cung cấp những thông tin trái ngược nhau. Theo Đại Việt sử ký toàn thư, Lê Lợi thấy Hậu Trần không có thực lực nên không theo. Ngược lại, Việt sử tiêu án lại cho rằng Lê Lợi từng theo phò Trùng Quang Đế và làm đến chức Kim ngô Tướng quân.[e] Dù có sự khác biệt, song các sử liệu này đều đồng quan điểm rằng Lê Lợi nuôi chí khôi phục quốc gia, nhún nhường chiêu hiền đãi sĩ, thu nạp anh hùng hào kiệt. Tán quân vụ Hoàng Phúc của nhà Minh nghe danh tiếng của Lê Lợi, bèn ban chức quan để chiêu mộ, song bị ông cự tuyệt.[49]
Đầu năm 1416, Lê Lợi cùng 18 người "tuy họ hàng quê quán khác nhau" đã tập hợp tại Lũng Nhai thuộc Lam Sơn, mở hội thề nguyện đánh quân Minh cứu nước.[50] Trong khoảng thời gian sau đó, lần lượt có nhiều nghĩa sĩ khác gia nhập cùng Lê Lợi, tạo thành một tập thể được gọi là "tập hợp Lũng Nhai".[51] Ngoại trừ một số trường hợp ngoại lệ, phần lớn những người trong "tập hợp Lũng Nhai" đều thuộc tầng lớp lao động nghèo khổ, gồm dân chài, nông dân, người làm muối, hoặc nô tỳ; bên cạnh đó, cũng không ít người là dân tộc thiểu số như Mường, Thái, Chiêm.[52] Bấy giờ, do nhận thấy thế người Minh còn mạnh, Lê Lợi đút lót cho một số quan lại, tướng lĩnh nhà Minh để được yên ổn, có thêm thời gian để xây dựng lực lượng. Đến cuối năm 1417, lực lượng dưới trướng Lê Lợi đã có vài nghìn người.Lương Nhữ Hốt,một viên quan người Việt phục vụ cho nhà Minh, biết rằng Lê Lợi có chí lớn nên đã báo cáo lên cấp trên. Ngay sau đó, người Minh liền bố trí do thám để theo dõi tình hình của nghĩa quân và chuẩn bị cho một cuộc tấn công phủ đầu. Trước tình hình đó, ngày 7 tháng 2 năm 1418, Lê Lợi tự xưng là Bình Định vương, cùng toàn thể nghĩa quân phất cờ khởi nghĩa ở Lam Sơn. Ông cử cháu là Lê Thạch làm tướng quốc và truyền hịch đi các nơi, kêu gọi nhân dân nổi dậy chống người Minh.[53]
Hoạt động ở vùng núi Thanh Hóa (1418)Vùng đất Lam Sơn có vị trí không thuận lợi cho việc tổ chức và phát triển của nghĩa quân vì chỉ nằm cách thành Tây Đô – một trong hai tòa thành lớn nhất Giao Chỉ (tòa còn lại là Đông Quan) – khoảng 20 km về phía Tây Nam theo đường chim bay. Sau khi tiêu diệt nhà Hồ và trấn áp các cuộc khởi nghĩa từ Thanh Hoá trở vào, nhà Minh đã sử dụng thành Tây Đô làm căn cứ quân sự chính ở phía Nam, qua đó kiểm soát và khống chế một khu vực rộng lớn kéo dài từ Thanh Hóa vào Thuận Hóa. Do có địa bàn kề cận một cứ điểm đóng quân quan trọng của nhà Minh, nghĩa quân Lam Sơn dễ dàng trở thành mục tiêu tấn công của lực lượng đồn trú ở đây.[55] Chính vì vậy, trong giai đoạn đầu của cuộc khởi nghĩa, Lam Sơn chỉ là một lực lượng mang tính địa phương và chỉ có thể kháng cự yếu ớt trước các cuộc truy quét của quân Minh.[56]
Ngày 13 tháng 2 năm 1418, sau khi phân tích tình hình, Lê Lợi quyết định rút lui khỏi căn cứ Lam Sơn về phía Tây để đóng quân ở Lạc Thủy[i] – một địa điểm nằm trên tuyến đường sang Lan Xang (Lào). Cùng ngày, ông cử một số thân tín sang giao thiệp với Lan Xang, yêu cầu nước này hỗ trợ lương thực, khí giới và voi ngựa.[57] Ngày 14 tháng 2, tướng Minh là Mã Kỳ dẫn quân từ Tây Đô đuổi đánh nghĩa quân. Đoán trước hành động trên, Lê Lợi đã cho bố trí phục binh tại Lạc Thủy.[55] Khi quân Mã Kỳ tới vào ngày 18 tháng 2, Lê Lợi sai quân mai phục đổ ra đánh, tạm thời cầm chân quân Minh. Tuy giành thắng lợi đầu tiên, nhưng trước lực lượng đông đảo của đối phương, nghĩa quân Lam Sơn buộc phải rút lui về hướng núi Chí Linh.[58]
Theo Lam Sơn thực lục, sau thất bại ở Lạc Thủy, để trả thù và dụ hàng Lê Lợi, Mã Kỳ ra lệnh cho một người tên Ái, phụ đạo xứ Nguyệt Ấn dẫn người đào phá phần mộ nhà Lê Lợi ở xứ Phật Hoàng. Quân Minh cho treo hài cốt phụ thân Lê Lợi lên đầu thuyền nhằm ép ông ra hàng nhưng không thành.[59][f] Sau đó, quân Minh tiến công nghĩa quân từ chính diện, trong khi một cánh quân do viên phụ đạo tên Ái chỉ huy đi theo đường tắt đánh úp quân Lam Sơn. Bị tấn công từ hai phía, nghĩa quân chống trả yếu ớt và nhanh chóng bị đánh bại. Vợ con của Lê Lợi cũng như thân quyến của nhiều tướng sĩ lần lượt bị bắt. Trước tình thế hiểm nghèo, môt bộ phận nghĩa quân mất sĩ khí lần lượt đào ngũ, chỉ có một số người theo Lê Lợi vào Chí Linh ẩn náu. Bị quân Minh vây khốn, nghĩa quân phải cố thủ trên núi Chí Linh trong tình trạng thiếu thốn lương thực hơn 2 tháng. Chỉ tới khi quân Minh rút lui vào cuối tháng 3, Lê Lợi mới trở về và tập hợp tàn quân hơn 100 người.[61]
Nghĩa quân Lam Sơn có khoảng thời gian hơn nửa năm để củng cố lực lượng, xây dựng chiến lũy ở Lam Sơn, vì quân Minh lúc bấy giờ còn phải phân tán nhằm đối phó với những cuộc khởi nghĩa khác, nổi bật nhất là cuộc khởi nghĩa của Xa Khả Tham ở vùng Tây Bắc. Sau khi trấn áp những cuộc khởi nghĩa khác, Tổng binh nhà Minh là Lý Bân cử quân từ Đông Quan vào đánh Lam Sơn. Thấy Lam Sơn có vị trí không thuận lợi cho việc phòng thủ, Lê Lợi hạ lệnh rút quân xuống Mường Một. Tại đây, ông thành công phục kích một bộ phận quân Minh, buộc tàn quân phải tháo chạy về đồn Nga Lạc cố thủ. Sau 6 tháng vây hãm, sang tháng 5 năm 1419, nghĩa quân Lam Sơn thành công chiếm đồn Nga Lạc. Tuy giành thắng lợi, song Lê Lợi vẫn bí mật rút lui về núi Chí Linh do lo ngại người Minh thực hiện các hành động đáp trả.[62]
Tháng 5 năm 1419, quân Minh tiến hành bao vây núi Chí Linh, phong tỏa toàn bộ các lối hiểm yếu. Trước tình thế hiểm nghèo, một thuộc tướng trung thành là Lê Lai tự nguyện đóng giả làm Lê Lợi, dẫn quân ra ngoài nhử quân Minh. Sau khi bắt được Lê Lai, quân Minh tưởng đã bắt được chủ soái Lam Sơn nên lơi lỏng phòng bị, tạo điều kiện cho Lê Lợi cùng tàn quân chạy thoát.[63] Sau khi quân Minh rút lui, Lê Lợi quay trở về Lam Sơn để gây dựng lại lực lượng. Được tin nghĩa quân Lam Sơn không những không tan rã mà còn đang củng cố lực lượng, Lý Bân lập tức điều quân tới trấn áp, nhưng bị rơi vào trận địa phục kích ở Mường Chính và buộc phải rút về đóng quân ở Khả Lam.[64] Sau thắng lợi tại Mường Chính, Lê Lợi nhận được tin triều đình Lan Xang sẵn sàng hỗ trợ trong cuộc chiến chống lại nhà Minh nên đã đem toàn bộ lực lượng đến Mường Thôi để hoạt động cũng như tiện tiếp xúc với người Lào.[65]
Chùm ảnh tư liệu
Ảnh tư liệu của bài viết.
Gây dựng thanh thế (1419–1421)Từ tháng 9 năm 1419, với sự giúp sức từ Lan Xang, nghĩa quân đã tiến xuống hoạt động tại vùng Lỗi Giang,[ii] đóng quân ở Ba Lãm.[iii][66] Cũng trong thời gian này, hàng loạt các cuộc nổi dậy vũ trang bùng nổ trên khắp lãnh thổ Giao Chỉ, nổi bật nhất là các cuộc khởi nghĩa của quân áo đỏ ở vùng Tây Bắc, Phạm Ngọc ở vùng Đông Bắc, Phan Liêu ở Nghệ An và Lộ Văn Luật ở Thạch Thất.[67] Do một số cuộc khởi nghĩa có quy mô lớn mạnh và có mối đe dọa trực tiếp hơn so với nghĩa quân Lam Sơn, Lý Bân tạm thời rời Nghệ An để quay trở về Đông Quan dẹp loạn. Lê Lợi nhân cơ hội này tiêu diệt các thủ lĩnh địa phương đối nghịch trong vùng, mở rộng địa bàn hoạt động ra các khu vực phụ cận. Sau khi trấn áp thành công các cuộc khởi nghĩa lớn, phong trào Lam Sơn nghiễm nhiên trở thành mối đe dọa lớn nhất của người Minh.[68] Chính vì lý do đó, Lý Bân dự định cuối năm 1420 sẽ mở một cuộc tiến công mới vào Thanh Hóa nhằm tiêu diệt nghĩa quân Lam Sơn.[69]
Tháng 11 năm 1420, Lý Bân, Phương Chính dẫn quân từ Tây Đô đánh lên vùng miền núi Thanh Hóa. Nhờ khoảng thời gian một năm gây dựng lực lượng, nghĩa quân liên tiếp giành các thắng lợi trước quân Minh tại Mường Thôi, Bồ Mộng, Bồ Thi Lang,[iv] buộc Lý Bân, Phương Chính phải rút về Tây Đô.[70] Nhân đà thắng lợi, tháng 12 năm 1420, Lê Lợi dẫn toàn bộ binh mã xuống Lỗi Giang, lập trại tại Ba Lãm, sau đó cử Lê Sát đánh đồn Quan Du. Thắng lợi tại đây khiến thanh thế nghĩa quân Lam Sơn vang dội khắp nơi. Nhiều hào kiệt từ các vùng khác – trong đó có Nguyễn Trãi – tìm đến đại bản doanh ở Lỗi Giang để gia nhập hàng ngũ nghĩa quân.[71] Tuy nhiên, cũng trong thời gian này, do đã lựa chọn ủng hộ Lộ Văn Luật – người lúc này đang tị nạn tại triều đình Lan Xang – phía Lan Xang quyết định tuyệt giao với nghĩa quân Lam Sơn.[72]
Mùa hè và mùa thu năm 1421, lũ lớn tàn phá khu vực đồng bằng sông Hồng gây nhiều thiệt hại về mặt kinh tế, xã hội. Vì còn phải đối phó với thiên tai, quân Minh buộc phải tạm hoãn mọi kế hoạch tác chiến.[73] Do lâu ngày mà vẫn chưa thể thắng Lê Lợi, Lý Bân phải tìm cách tìm kiếm sự ủng hộ từ Lan Xang. Lý Bân báo về Bắc Kinh là Lê Lợi đã trốn sang Lào, vừa để tránh bị vua quở trách, vừa để gây áp lực buộc Lan Xang hỗ trợ mình.[74] Sau khi khắc phục các hậu quả thiên tai và thành công ép Lan Xang đổi phe, Lý Bân cử Trần Trí mang quân tiến lên vùng Tây Bắc Thanh Hóa dẹp loạn.[75] Nhằm tạo bất ngờ, nghĩa quân Lam Sơn tổ chức tập kích ban đêm vào doanh trại quân Minh ở ải Kình Lộng,[v] song vẫn không thể ngăn chặn sức tiến công mạnh mẽ của quân Minh. Lợi dụng quân số áp đảo, Trần Trí lập tức tấn công lên đèo Ống, nhưng không may rơi vào trận địa mai phục của nghĩa quân và buộc phải rút lui.[76] Ngay sau khi quân Minh vừa rút, hoàng tử Lan Xang là Phommathat đem 3 vạn quân tiến vào biên giới. Lầm tưởng họ tới giúp, nghĩa quân Lam Sơn lơi lỏng phòng bị và đã bị đánh úp.[77] Tuy nhiên, dù bị tập kích bất ngờ vào lúc nửa đêm, nghĩa quân vẫn kiên cường chống trả và thành công đẩy lùi quân Lan Xang.[78]
Hòa bình tạm thời (1422–1424)
sửa
Sau các thất bại liên tiếp, quân Minh rơi vào thế bị động. Tháng 3 năm 1422, Lý Bân mắc bệnh qua đời và được thay thế bởi Trần Trí. Do còn có nhiều vấn đề nội bộ cần giải quyết, quân Minh không có trận đụng độ đáng kể nào với nghĩa quân Lam Sơn trong suốt nửa sau của năm 1422. Phải đến tháng 2 năm 1423, quân Minh mới cùng Lan Xang phối hợp tấn công nghĩa quân, khiến Lê Lợi phải rút khỏi Lỗi Giang chạy về vùng huyện Khôi.[79] Tuy thành công cầm chân liên quân Minh–Lan Xang, song nghĩa quân cũng hứng chịu tổn thất nặng nề. Ngoài ra, do nhận thấy huyện Khôi lẫn Lỗi Giang không còn là nơi phù hợp để làm chỗ đóng quân, Lê Lợi buộc phải rút về núi Chí Linh lần thứ ba để gầy dựng lại lực lượng.[80] Tuy nhiên, sau hơn hai tháng ở Chí Linh, nghĩa quân lâm vào tình trạng khó khăn, phải ăn măng rừng, rau củ để sống qua ngày. Lê Lợi phải giết cả voi và ngựa chiến để nuôi quân. Trong tình thế hiểm nghèo, lòng quân dao động, thậm chí có người bỏ trốn. Chỉ khi Lê Lợi chém một viên tướng bỏ trốn, việc quân mới tạm ổn. Trong bối cảnh ấy, Lê Lợi đã chủ trương giảng hòa với quân Minh, tranh thủ thời gian để xoay chuyển tình thế.[81]
Đầu tháng 5 năm 1423, để thực hiện kế sách hòa hoãn, Lê Lợi cử sứ giả đem lễ vật gồm 5 đôi ngà voi cùng thư xin hàng đến thương lượng với quân Minh.[82] Mối đe dọa từ các bộ lạc Mông Cổ đang manh nha ở biên giới phía Bắc không cho phép người Minh mở rộng chiến sự ở phía Nam, vì vậy họ đã nhanh chóng chấp thuận đề nghị của Lê Lợi.[83] Trong khoảng thời gian sau đó, ông lại thường xuyên dùng vàng, bạc để tặng các chỉ huy nhà Minh như Trần Trí, Sơn Thọ. Đáp lại, họ cũng đem nhiều cá, muối, thóc giống và nông cụ tặng nghĩa quân.[84] Trong thời gian này, hoạt động luyện tập binh sĩ, chế tạo vũ khí, chuẩn bị lương thực được nghĩa quân tiến hành trong bí mật. Sau khi sự việc bị người Minh phát giác, Lê Lợi cử người mang quà đến biếu để trấn an đối phương. Tuy nhiên, sứ giả của nghĩa quân đã bị Trần Trí và Sơn Thọ bắt giam ngay sau đó. Trước tình hình trên, Lê Lợi quyết định đình chỉ việc giảng hòa.



