Sự hồi sinh diệu kỳ
Suốt đêm 18/3/1975 Trung đoàn chúng tôi rầm rập hành quân theo đường 14, đến gần sáng ngày 19/3 thì tạt vào rừng nghỉ lại, chiều tối sẽ đi tiếp theo hướng đường 7 về Phú Yên. Cho đến bây giờ tôi và nhiều đồng đội khác vẫn không ai biết cụ thể điềm dừng chân đó là gì, chỉ biết nơi ấy là một khu rừng bên quốc lộ 14 cây cối rậm rạp, gần thị xã Cheo Reo-Phú Bổn. Đêm hôm đó tôi lên cơn sốt ác tính, đơn vị bố trí 2 người ở lại trông coi, hẹn đến điểm dừng phía trước sẽ có xe về đón. Tôi và 2 đồng đội, Vũ Văn Có quê Hưng Hà, Thái Bình và Hồ Đăng Đoàn, quê Quỳnh Lưu, Nghệ An; đây là 2 chiến sĩ trẻ hơn tôi 3, 4 tuổi, thuộc diện ngoan hiền trong Đại đội. Giữa rừng, không phương hướng, anh em tôi chỉ biết cầu mong tiếng xe của đơn vị đến từng giờ; nhưng càng mong càng nản, tôi mỗi ngày thêm kiệt sức vì sốt cao triền miên không dứt, không có thuốc thang gì. Về đồ ăn thức uống và thực phẩm thì có nhiều vì toàn chiến lợi phẩm từ Buôn Ma Thuột mang theo rất phong phú; ngoài ra, vì là xe nhà (Đại đội đang dùng mấy xe GMC thu được của địch ở Buôn Ma Thuột) tôi còn lấy mang theo một cây Ghi ta Hawaii còn nguyên trong túi da rất đẹp và mấy cuốn sách mà tôi tìm được trong nhà dân.
Mỗi ngày qua đi, tôi kiệt sức dần và đến ngày thứ 5 (ngày 23/3) thì đến mức sữa cũng không thể nuốt, tôi mơ hồ nghĩ về một cuộc ra đi dưới gốc cây giữa rừng Tây Nguyên này trong vô vọng. Hai đồng đội của tôi khi về đến Sài Gòn kể lại, khi nhìn anh như hấp hối, 2 đứa khóc và thì thầm vào tai tôi, anh muốn nói gì với bọn em không. Như đốm sáng cuối cùng trước khi vụt tắt, tay tôi hướng về nơi có mấy cuốn sách mang theo, mà chưa đọc được gì và cậu Có đã lấy trúng cuốn tiểu thuyết “Nửa chừng xuân” của Khái Hưng (xuất bản lần đầu từ năm 1934 – nhóm Tự lực văn đoàn), đọc cho tôi nghe. Tôi chỉ nghe chập chờn được mấy câu và không còn biết gì thêm nữa. Ngày sau, khi hồi tỉnh, tôi ngơ ngác vì không hiểu tại sao mình lại ở đây, mọi vật xung quanh đều lạ hoắc, một cái nhà hầm đơn sơ nửa chìm nửa nổi, bên cạnh là một người phủ băng trắng toát, đã không còn thở, mùi khét của da thịt bị cháy chắc là đây. Sáng rõ, tôi được đưa vào hầm cấp cứu. Ngày hôm sau, tôi hỏi chuyện và được bác sĩ điều trị cho biết, đây là Trạm Quân y tiền phương của mặt trận B3, ba chiến sĩ đã cáng tôi vào đây, tôi và anh bạn kia đều chết lâm sàng từ tối qua, nằm nhà chờ để sáng sớm làm thủ tục cuối cùng, nhưng tôi đã hồi sinh; anh bạn nằm bên cạnh kia thì đã ra đi từ lúc nào rồi. Nghe anh em thương binh kể lại, quả đạn B41 anh ấy bắn đã gây bỏng nặng do vật cản phía sau gần quá mà người bắn không quan sát hết. Tôi vẫn còn yếu và đang ngơ ngác sau khi sống lại thì nghe lao xao nhiều người đang đến đây, họ là bộ phận tiền trạm đến làm công tác chuẩn bị để đón Bộ tư lệnh tiền phương chiến dịch vào (nghe anh em quân y nói là tướng Văn Tiến Dũng vào). Thương binh và Quân y của Trạm phẫu tiền phương khẩn trương được đưa lên xe di chuyển về tuyến sau. Những ngày sau tôi theo đường chuyển thương của mặt trận B3, qua vài trạm trung chuyển và dừng lại trên đất Công Tum, nơi có Viện 211 của mặt trận Tây Nguyên. Viện đặt trong một khu rừng Săng Lẻ êm ả và kín đáo, lại ở gần sông Pô Cô xinh đẹp, như lời trong bài hát về người anh hùng A Sanh của nhạc sỹ Cầm Phong mà tôi được nghe trên Đài phát thanh Giải Phóng hôm nào.
Lại chuyện 2 đồng đội tôi kể, trong lúc bấn loạn và không nỡ nhìn tôi trút hơi thở cuối cùng, một người chạy vào rừng tìm người cứu giúp và đã gặp được một chiến sỹ ta nhiệt tình giúp đỡ (may là không gặp phải tàn quân địch đang tiếng. Cả ba người đành bỏ lại nhiều thứ chiến lợi phẩm quý giá, chỉ mang vũ khí theo người để đưa tôi đi ngay. Sau đó họ tìm đường trở về với Trung đoàn. Về đến đơn vị cả hai người mới hay tình huống không may đã xảy ra, chiếc xe GMC quay lại đón chúng tôi đã bị pháo kích đánh chặn dọc đường, lái xe Hồ Văn Chiên, người của Trung đội tôi, may mắn thoát nạn, nhưng xe bị vỡ đến 6 lốp, Chiên đành bỏ xe tìm đường quay trở về đơn vị và báo cáo là đã không thể hoàn thành nhiệm vụ được giao; anh em đã khóc vì thất lạc 3 người trong rừng lạ, không biết còn sống hay đã chết. Trong suốt hành trình qua các trạm trung chuyển dọc đường, mệt mỏi và kiệt sức, 2 chân tôi đau quá thể, bi quan và vô vọng, tôi nghĩ đôi chân đã hỏng, mình thành phế binh thật sự rồi. Nhưng sau gần nửa tháng điều trị, tôi phục hồi khá nhanh, đến ngày 06/4/1975 thì đi lại và sinh hoạt gần bình thường nên xin bác sĩ điều trị cho ra Viện, tôi biết thông tin đơn vị tôi có xe ra Pleiku đón, cùng nhiều người của Trung đoàn, cơ hội hiếm có đến với tôi lúc này!. Thế là tôi được xuất Viện. Tôi đã tìm đến Đoàn thu dung với gần hai chục đồng đội để cùng trở về Trung đoàn. Khi vào đến Buôn Ma Thuột, chờ xe đi tiếp vào mặt trận mới Xuân Lộc-Long Khánh, nơi Trung đoàn 95 sẽ chiến đấu, tôi đã tới thăm gia đình anh Phấn, chị Hường, nơi tôi ở lúc còn đánh Buôn Ma Thuột, chuyện này tôi xin được kể lại sau.



