Bài viết

Sự kiện 30 tháng 4 năm 1975 (5)

Tây Ninh10/06/2026TRẦN NHẬT HÀO (KHU PHỐ 2-PHƯỜNG TÂN NINH)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Đầu năm 1975, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao Động Việt Nam và Bộ Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam phát động cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân, đặt mục tiêu “giải phóng hoàn toàn miền Nam” trước khi mùa mưa bắt đầu. Diễn biến chiến dịch diễn ra nhanh hơn dự kiến, vượt ngoài nhận định ban đầu của các bên quan sát. Chỉ trong vòng chưa đầy hai tháng kể từ khi chiến dịch được khởi động, lực lượng QGPMNVN đã kiểm soát phần lớn lãnh thổ miền Nam. Đầu tháng 4 năm 1975, năm cánh quân của QGPMNVN dưới sự chỉ huy trực tiếp của Đại tướng Văn Tiến Dũng bắt đầu tổng công kích vào Sài Gòn từ nhiều hướng. Lực lượng Quân lực Việt Nam Cộng hòa (QLVNCH) do Trung tướng Nguyễn Văn Toàn phụ trách tổ chức phòng thủ khu vực đô thị trọng yếu. Tuy nhiên, sau những thất bại liên tiếp trước đó và do tinh thần suy giảm, tuyến phòng thủ của QLVNCH nhanh chóng rạn nứt trước sức ép từ các mũi tấn công của QGPMNVN. Các đơn vị QLVNCH rút lui hoặc tan rã tại nhiều điểm, khiến các cánh quân của QGPMNVN nhanh chóng áp sát và tiến sâu vào nội đô. Ngày 30 tháng 4, binh sĩ QGPMNVN tiến vào Dinh Độc Lập và treo cờ của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam lên nóc dinh. Trước tình hình đó, vào khoảng 11 giờ 30 phút, Tổng thống Dương Văn Minh, người vừa nhậm chức được hai ngày, đã tuyên bố đầu hàng vô điều kiện. Trước khi QGPMNVN kiểm soát hoàn toàn nội đô Sài Gòn, hàng chục nghìn người dân cùng hàng nghìn công dân Hoa Kỳ và các nước đồng minh đã tập trung tại các điểm tập kết ở trung tâm thành phố nhằm tìm đường di tản. Trong bối cảnh đó, Chiến dịch Gió lốc do Hải quân và Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ triển khai đã trở thành cuộc di tản bằng trực thăng lớn nhất lịch sử. Bên cạnh làn sóng người di tản ra nước ngoài, sau ngày 30 tháng 4, chính quyền mới ban hành các chính sách xã hội nhằm tái tổ chức dân cư Sài Gòn. Một bộ phận cư dân được khuyến khích hoặc tổ chức di chuyển về nông thôn và các khu kinh tế mới, khiến dân số thành phố giảm mạnh trong những năm đầu sau chiến tranh. Sự kiện 30 tháng 4 không chỉ chấm dứt gần ba thập kỷ xung đột mà còn mở ra thời kỳ chuyển tiếp, khi miền Nam Việt Nam đặt dưới sự quản lý của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Sau khi chính quyền Việt Nam Cộng hòa sụp đổ, chính quyền Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã sáp nhập tỉnh Gia Định vào Sài Gòn, trở thành Sài Gòn – Gia Định. Năm 1976, hai miền chính thức thống nhất thành nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời Sài Gòn – Gia Định được đổi tên thành Thành phố Hồ Chí Minh nhằm vinh danh cố Chủ tịch Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Hồ Chí Minh. Giành quyền kiểm soát các tỉnh phía Nam vĩ tuyến 17, nội bộ chính quyền miền Nam rơi vào trạng thái bất ổn sâu sắc. Làn sóng bất mãn đối với Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu và nội các của ông gia tăng nhanh chóng trong hàng ngũ dân sự và quân sự. Quốc hội Việt Nam Cộng hòa lúc bấy giờ đã nhất trí thông qua kiến nghị yêu cầu thay đổi chính quyền, trong khi giới tướng lĩnh và quan chức cấp cao bắt đầu manh nha ý định binh biến. Trước sức ép chính trị ngày càng lớn, Nguyễn Văn Thiệu buộc phải tiến hành cải tổ nội các. Trong đợt thay đổi nhân sự này, Thủ tướng Trần Thiện Khiêm từ chức và Nguyễn Bá Cẩn được chỉ định đứng ra thành lập chính phủ mới.[13] Tuy nhiên, các biện pháp này không mang lại hiệu quả đáng kể và tình hình tiếp tục xấu đi. Ngày 8 tháng 4, Nguyễn Thành Trung, một phi công thuộc Không lực Việt Nam Cộng hòa – vốn là người hoạt động bí mật cho Đảng Lao động Việt Nam – đã điều khiển máy bay tiêm kích F-5 bay đến thả bom xuống Dinh Độc Lập.[14] Sau khi hoàn tất nhiệm vụ, ông lập tức chuyển hướng, bay thẳng về vùng kiểm soát của Quân Giải phóng và hạ cánh an toàn.[15] Dù không gây thương tích cho Tổng thống Thiệu, tin tức về vụ tấn công vẫn tạo ra tâm lý hoảng loạn trong nội bộ miền Nam.[16][17] Trên mặt trận đối ngoại, chính quyền Sài Gòn ráo riết vận động viện trợ từ Hoa Kỳ, song các nỗ lực này không đạt được kết quả cụ thể. Điều đó đồng nghĩa với việc cơ hội giành lại sự hậu thuẫn chiến lược từ Washington gần như tan biến. Ngày 10 tháng 4, chính quyền Tổng thống Gerald Ford trình lên Quốc hội Hoa Kỳ một kế hoạch viện trợ khẩn cấp, bao gồm 722 triệu $ phục vụ mục tiêu quân sự, cùng 250 triệu $ cho hỗ trợ kinh tế và người tị nạn. Tuy nhiên, đề xuất vấp phải sự phản đối từ nhiều nghị sĩ, vốn lo ngại rằng chính phủ sẽ kéo dài thời gian rút quân để đổi lấy sự thông qua từ Quốc hội. Ngay cả Bộ trưởng Quốc phòng James Schlesinger cũng công khai phản đối gói viện trợ này. Đến ngày 17 tháng 4, mọi cuộc thảo luận liên quan bị chấm dứt, đồng nghĩa với việc chính quyền Sài Gòn không còn bất kỳ hy vọng nào về các khoản viện trợ từ Washington. Trong cùng thời điểm, một bộ phận nhân vật thuộc giới ngoại giao Hoa Kỳ – đặc biệt là Đại sứ Graham Martin – cùng một số chính khách tại Washington vẫn nuôi hy vọng có thể đạt được thỏa thuận thông qua con đường đàm phán với chính quyền Hà Nội. Tuy nhiên, các quan điểm nội bộ lại thiếu sự thống nhất, đặc biệt là về câu hỏi liệu chính quyền do Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đứng đầu có còn đủ uy tín và năng lực để đại diện tiến hành thương lượng hay không.[18] Không chỉ các đảng phái đối lập, giới tướng lĩnh quân đội, các tổ chức tôn giáo và phong trào sinh viên liên tục đưa ra yêu cầu ông từ chức, mà ngay cả trong nội bộ lực lượng ủng hộ, lòng tin vào năng lực lãnh đạo của ông cũng đang sụp đổ nhanh chóng. Làn sóng yêu cầu thay đổi lãnh đạo lên đến đỉnh điểm. Trong khi đó, ngày 2 tháng 4, Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam chính thức tuyên bố sẵn sàng tiến hành đàm phán, nhưng chỉ với một chính phủ không do Nguyễn Văn Thiệu đứng đầu. 5, 9, 3 (trước là Sư đoàn 303, ghép từ Trung đoàn 271 và 205 của B2), Trung đoàn độc lập 16, 2 tiểu đoàn xe tăng (26 xe T-54 và 18 xe PT-85), 1 tiểu đoàn công binh, 1 tiểu đoàn thiết giáp 23, 5 đại đội pháo, Trung đoàn phòng không 595 và đại đội pháo cao xạ 23mm. Tổng quân số: 42.000 người. Tư lệnh: Trung tướng Nguyễn Minh Châu. Chính ủy: Thiếu tướng: Lê Văn Tưởng.[24] Quân lực Việt Nam Cộng hòa Trước ngày 30 tháng 4 năm 1975, lực lượng quân sự mặt đất của miền Nam tập trung ở ba khu vực chính:[26]• Quân đoàn IV: Tư lệnh: Thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam, phụ trách khu vực đồng bằng sông Cửu Long.• Quân đoàn III: Tư lệnh: Trung tướng Nguyễn Văn Toàn, phụ trách vùng ven đô Sài Gòn. • Biệt khu Thủ đô: Chỉ huy: Thiếu tướng Lâm Văn Phát, phụ trách vùng đô thành Sài Gòn. Từ giữa tháng 4, Trung tướng Nguyễn Văn Toàn thiết lập năm tuyến phòng ngự ngoài ô để ngăn đợt tấn công vào Sài Gòn. Các tuyến phòng thủ tạo thành hình vòng cung ở phía Tây, Bắc và Đông thành phố:[27] • Mặt trận Củ Chi (Tây Bắc): do Sư đoàn 25 Bộ binh trấn giữ tại Củ Chi, Trảng Bàng, Hậu Nghĩa. Bộ chỉ huy đóng ở Đồng Dù. • Mặt trận Bình Dương (Bắc): do Sư đoàn 5 Bộ binh đảm nhiệm, đóng tại Bình Dương, Bến Cát, chỉ huy ở Lai Khê. • Mặt trận Biên Hòa (Đông Bắc): do Sư đoàn 18 Bộ binh và Lữ đoàn Thiết giáp 3 trấn giữ, khu vực Long Bình có lực lượng thủy quân lục chiến (chỉ còn 2 lữ đoàn). • Mặt trận Vũng Tàu – Quốc lộ 15 (Đông Nam): do Lữ đoàn Dù 1 đóng tại Bà Rịa và 1 tiểu đoàn của Sư đoàn 3 Bộ binh đảm nhiệm. • Mặt trận Long An (Tây): do Biệt khu Thủ đô chỉ đạo, phối hợp lực lượng tái cơ cấu từ Sư đoàn 22 Bộ binh. Trong nội đô, các lực lượng đặc biệt được tổ chức thành các cụm phản ứng nhanh.[28] Một cụm đóng tại trại tân binh Quang Trung (Bắc Sài Gòn), phòng thủ tuyến Hóc Môn – Tân Sơn Nhứt; cụm khác tại Bình Chánh (Tây Nam); cụm còn lại ở Bình Triệu (Đông Bắc). Bộ Tổng tham mưu do Tiểu đoàn 81 Biệt kích dù bảo vệ. Sân bay Tân Sơn Nhứt và Dinh Độc Lập đều được bố trí lực lượng canh gác.[29] Tổng lực lượng QLVNCH tại khu vực thủ đô trước ngày 30 tháng 4 khoảng 60.000 quân. Sau đó, do làn sóng di tản và rút lui, hàng chục nghìn quân nhân từ các quân đoàn khác (kể cả Quân đoàn I và II) cũng đổ về Sài Gòn. Dù quân số trong đô thị tăng vọt lên đến 250.000 người có vũ trang, phần lớn trong số này là các đơn vị rã ngũ hoặc không còn hệ thống chỉ huy, khiến tình hình an ninh đô thị càng thêm hỗn loạn.[30] Từ đêm 9 đến rạng sáng ngày 10 tháng 4 năm 1975, Quân đoàn 4 của Quân đội Nhân dân Việt Nam – gồm Sư đoàn 7, Sư đoàn 1, cùng với Sư đoàn 6 của Quân khu 7 – mở chiến dịch tấn công vào khu vực Xuân Lộc,[31] được mệnh danh là “cánh cửa thép” của Sài Gòn.[32] Lực lượng phòng thủ tại đây do Sư đoàn 18 Bộ binh Quân lực Việt Nam Cộng hòa đảm trách, với sự yểm trợ từ không quân, pháo binh, thiết giáp, lính dù và Thủy quân lục chiến.[33] Trận chiến kéo dài nhiều ngày với cường độ ác liệt, hai bên giành giật từng khu vực trong đô thị, gây thương vong lớn cho cả hai bên. Sau hơn 10 ngày kịch chiến, đến ngày 20 tháng 4, Quân Giải phóng chính thức kiểm soát Xuân Lộc.[34] Các đơn vị QLVNCH rút chạy theo hướng Tây, để lại nhiều vũ khí hạng nặng và xe cơ giới. Trận đánh này được xem là trận chiến quy mô lớn cuối cùng mà QLVNCH tổ chức. Việc thất thủ Xuân Lộc đồng nghĩa với việc tuyến phòng thủ Đông Nam bộ bị chọc thủng và chiến tuyến chỉ còn cách trung tâm Sài Gòn khoảng 42 km.[35] Thất bại tại đây trở thành cú đòn giáng mạnh về tinh thần và chiến lược của Việt Nam Cộng hòa.[36] Trước sức ép chính trị liên tục gia tăng, ngày 21 tháng 4, Nguyễn Văn Thiệu tuyên bố từ chức tổng thống và tổng tư lệnh quân đội trên sóng truyền hình quốc gia.[37] Trong bài phát biểu dài hơn 10 phút với giọng điệu đầy giận hờn, ông công khai cáo buộc Hoa Kỳ là “một đồng minh vô nhân đạo với những hành động vô nhân đạo”, đã không thực hiện các cam kết viện trợ quân sự, khiến Việt Nam Cộng hòa rơi vào thế khó.[38] Ông cũng phê phán chính quyền Washington đã gây sức ép buộc Sài Gòn ký kết Hiệp định Paris, rồi sau đó lại thụ động khi chính quyền Hà Nội vi phạm thỏa thuận và phát động tiến công trở lại.[39] Mặc dù quyền lực trên danh nghĩa được chuyển giao cho Phó Tổng thống Trần Văn Hương – một chính khách cao tuổi – song phía Hà Nội cho rằng rằng bản chất của bộ máy cầm quyền không hề thay đổi và gọi đây là “chính quyền Nguyễn Văn Thiệu không có Nguyễn Văn Thiệu”.[40] Chiến thắng tại Xuân Lộc mở toang cánh cửa tiến vào Sài Gòn cho quân Giải phóng. Trong quá trình tập trung binh lực cho trận Xuân Lộc, chính quyền Sài Gòn đã rút bớt quân khỏi nhiều địa bàn chiến lược tại Đồng bằng sông Cửu Long, làm suy yếu thế trận phòng thủ tổng thể.[35] Quân Giải phóng nhanh chóng lợi dụng lỗ hổng này để bao vây Sài Gòn từ nhiều hướng.[41] Ngày 22 tháng 4, ngay sau khi Thiệu từ chức, Bí thư Trung ương Đảng Lao động Việt Nam Lê Duẩn từ Hà Nội gửi điện chỉ thị cho các chỉ huy quân Giải phóng rằng: “Thời cơ chính trị và quân sự để tấn công Sài Gòn đã chín muồi”.[42] Các kế hoạch tổng tiến công được khẩn trương triển khai. Ngày 27 tháng 4, hơn 100.000 quân Giải phóng từ nhiều cánh quân áp sát Sài Gòn, tạo thành thế bao vây chặt chẽ.[43] Toàn bộ các trục giao thông bộ nối liền Sài Gòn với các vùng phụ cận bị cắt đứt, thành phố rơi vào tình trạng bị cô lập hoàn toàn.[44] Chiến dịch đánh chiếm bắt đầu từ ngày 26 tháng 4 với những đòn tấn công phối hợp vào Biên Hòa – nơi đặt căn cứ không quân và trung tâm hậu cần lớn nhất của Việt Nam Cộng hòa. Đồng thời, hệ thống tiếp tế cho Sài Gòn bị phá vỡ, cảng nước sâu Vũng Tàu – đầu mối tiếp nhận viện trợ cuối cùng – bị pháo binh và đặc công tập kích. Đến ngày 27 tháng 4, mệnh lệnh tổng công kích vào trung tâm Sài Gòn chính thức được ban hành.[45][22] Trước áp lực dồn dập từ quân Giải phóng và thế trận sụp đổ nhanh chóng, sự hỗn loạn từng xảy ra tại Quân khu I và II miền Nam hồi đầu năm nay cũng bắt đầu hiện diện tại Sài Gòn.[30] Chính phủ Việt Nam Cộng hòa ban hành lệnh thiết quân luật trên toàn thành phố, áp dụng giới nghiêm từ 21 giờ đêm đến 6 giờ sáng hôm sau. Tuy sinh hoạt ban ngày vẫn duy trì ở mức tối thiểu, nhưng tâm lý lo sợ lan nhanh. Hàng vạn người đổ về các bến xe, bến tàu, sân bay tìm đường thoát thân. Trật tự giao thông rối loạn, các trung tâm hành chính rơi vào trạng thái tê liệt.[46] Cơ quan tuyên truyền Sài Gòn từng phát đi thông điệp cảnh báo dân chúng về một cuộc “tắm máu” nếu Sài Gòn thất thủ, nhằm mục đích khơi dậy tinh thần kháng chiến. Tuy nhiên, chiến dịch tuyên truyền phản tác dụng, khiến tâm lý hoảng loạn trong dân chúng càng lan rộng. Khi quân Giải phóng siết chặt vòng vây, chính quyền Việt Nam Cộng hòa gần như bất lực, không còn đủ khả năng kiểm soát tình hình.[47] Sinh nghèo chăm chỉ cần tìm cha mẹ nuôi”, kèm theo thông tin cá nhân chi tiết như họ tên, ngày tháng năm sinh, số căn cước.[74] Một bộ phận lớn người Việt Nam xin tị nạn tại Hoa Kỳ là các cựu quan chức và binh sĩ của Việt Nam Cộng hòa. Với quá khứ chống Cộng, nhiều người trong số họ kỳ vọng sẽ nhanh chóng tìm thấy “thiên đường tự do” tại nước Mỹ. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, hành trình tái định cư mà họ đối mặt lại phức tạp hơn nhiều so với những gì từng được hứa hẹn. Phần lớn những người này bị đưa vào các trung tâm tiếp nhận do quân đội Hoa Kỳ vận hành, nơi họ buộc phải lưu trú trong thời gian dài ngắn khác nhau, trải qua nhiều thủ tục kiểm tra và sàng lọc khắt khe, trước khi có thể bắt đầu cuộc sống mới trên đất Mỹ.[75]

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn