Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

SỰ MẤT TÍCH CỦA MỘT NỮ Y TÁ

Giữa bối cảnh chiến trường Bình Định năm 1970 đầy cam go, khi ta và địch cài răng lược sát sao, câu chuyện xoay quanh sự mất tích bí ẩn của cô Trợ – một nữ đảng viên, y tá kiên trung của Trung đoàn 2. Sự vắng mặt đột ngột của cô trong ba ngày khiến đơn vị rơi vào trạng thái căng thẳng tột độ, giằng xé giữa quy tắc bảo mật quân sự và lòng tin dành cho đồng đội. Bằng sự nhạy bén và tình cảm gắn bó, anh Đáng đã kiên trì tìm kiếm và phát hiện ra Trợ đang ẩn mình trong hang đá do bị lạc đường khi đi

Lai Châu10/03/2026Ban Biên tập tổng hợp3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Khoảng cuối năm 1970, địch ra sức bình định nông thôn, bọn Nguỵ ở vòng trong dồn dân lập ấp, đóng chốt dày đặc. Bọn Mỹ và lính Nam Triều Tiên đảm nhiệm vòng ngoài, đổ quân đỉnh đồi, hốc núi nghi ngờ bộ đội ta hành quân, đóng quân. Có nơi chúng đổ quân chớp nhoáng lùng sục chốc lát rồi rút, có chỗ chúng đổ quân rồi nằm phục suốt mấy ngày liền (anh em thường gọi “ Mỹ lết”).

Trung đoàn 2 lúc này được giao nhiệm vụ phá kẹp, giành dân, do đó phải tiến ra đóng quân ở ven núi để dễ tiến xuống đồng bằng. Nhiều nơi bộ đội ta ở xen kẽ với địch trong một khu rừng. Thậm chí ta ở giữa, trước mặt, sau lưng chỉ cách dăm trăm mét đường chim bay là địch. Bộ đội lúc nào cũng trong trạng thái sẵn sàng chiến đấu.

Hồi đó, tôi được giao phụ trách Trạm Trung chuyển của Ban Hậu cần Trung đoàn 2. Trạm được đặt tại lưng chừng núi phía Tây xã Mỹ Trinh. Trên đỉnh núi là lính “Mỹ lết”, trước mặt qua Truông Xa Vấn là ấp Mỹ Hoà do quân nguỵ chiếm. Phía bắc là đường chiến lược nối Phù Mỹ với Hoài Ân, lính Mỹ, nguỵ đi lại thường xuyên. Chúng bốc cả quân Mỹ ở Gò Hội (Quảng Ngãi) vào phục “lết” sát đường ra vào trạm chúng tôi. Có thể nói, suốt ngày đêm, chúng tôi chỉ nói thầm hoặc ra hiệu với nhau. Súng khi nào cũng nạp đạn, xung quanh trạm lúc nào cũng bố trí vọng gác.

Hôm đó, sau khi đi kiểm tra các vị trí gác, tôi về chỗ đồng chí Thứ uống nước. Kiểu nước trà Quân giải phóng – treo bi-đông USA lên, đốt cồn khô lượm của Mỹ, một phút sau là có uống. Uống bằng bát sắt, nóng hôi hổi. Chưa uống xong một bát thì đồng chí Khuynh, đội trưởng đội phẫu của Trung đoàn đến xin gặp. Tôi vui vẻ nói: “Nếu chuyện yêu đương thì qua gặp Chính uỷ Ai. Nếu việc của trạm thì cứ ngồi đây vừa uống trà vừa bàn chuyện. Đây là trà của Phó chủ nhiệm Thân gửi từ tiền phương về khao thưởng chúng ta đấy. Trà Kim Tiền hảo hạng, không uống nhanh hương thơm bay lên đồi, bọn địch ngửi thấy sẽ mò xuống đấy.” Đồng chí Khuynh khen trà ngon, chưa báo cáo công việc thì tôi đã cao hứng nói: “Chúng ta là hậu cần nhưng mấy năm nay luôn ở vị trí xung kích giáp mặt địch như ở Làng Eo (năm 1968), dốc Cây Đa, Phổ Cường (năm 1969), An Đức, An Lão (năm 1969) và hôm nay là núi Chùa, Phú Mỹ. Lần nào cũng căng thẳng nhưng kỳ này có thêm thằng Đại Hàn (Nam Triều Tiên), ta vẫn ung dung của người chiến thắng”. Đồng chí Khuynh liền nói: “Nhưng hôm nay có lẽ chúng ta sẽ thua.” Tôi hỏi gắt: “Vì sao thua?” Khuynh nói: “Vì sáng nay, đội phẫu đã mất tích cô Trợ. Tìm khắp nơi mà không thấy, chỉ còn cái ba lô, thuốc và y cụ của đội.” Tôi thực sự sởn tóc gáy, trách cứ: “Việc động trời như thế mà không nói ngay, lại còn gãi đầu gãi tai như cờ bí nước.” Khuynh thanh minh: “Thì anh đã cho tôi nói đâu, lại còn mời uống nước”.

Tôi gặng hỏi: “Mất vào lúc nào?”

Khuynh: “Lúc mờ sáng mọi người thấy cô ấy đi giặt băng và vác thêm ống đạn để lấy nước.”

Tôi đứng dậy phân công đồng chí Thứ lấy thêm 1 chiến sỹ nữa ra đài quan sát giao thêm nhiệm vụ quan sát bìa núi, đồng chí Khuynh cử một đồng chí qua gặp tôi để đi nhận vị trí mới (vị trí đã được chuẩn bị trước). Lệnh cho anh em trong trạm sẵn sàng chiến đấu. Nếu thấy có trực thăng đổ quân thì cho bộ đội đi về phía nam, tôi sẽ về đón.

Tôi và đồng chí Khuyến – y tá đi vòng phía Nam núi Chùa, xuyên qua chân núi Én Liệng (điểm cao 719). Đi khoảng 1 tiếng đồng hồ vẫn không thấy dấu vết gì. Tôi nói cho Khuyến kinh nghiệm: Nếu thấy mạng nhện còn nguyên, lá non không bị lật là không có người qua. Chỗ sơn bình, thuỷ cận (núi bằng, gần suối) là chỗ dễ bị bom pháo, chỗ có vách núi dựng đứng, tuy ở khó nhưng là chỗ bom pháo không thể bắn trúng (ta thường gọi là góc tử giác).

Mười một giờ đêm, hai chúng tôi mới trở về trạm. Mọi người đang họp bàn để di chuyển. Đồng chí Ai – Chính uỷ hậu cần Trung đoàn cùng dự họp. Anh nhận định: Dù một ngày nay địch không có động tĩnh gì, nhưng chúng ta không thể bỏ qua tình huống cô Trợ đi chiêu hồi (đầu thú với địch). Đồng chí Nguyễn Thị Thu – Chính trị viên phó đội phẫu phát biểu: Cô Trợ trong công tác và sinh hoạt luôn yêu đời, không có biểu hiện tiêu cực. Nếu đi thì đi dưới thôn Đồng Cầu tối hôm qua, không có lý lên núi rồi lại xuống đầu thú. Đồng chí Thứ nói: Phía trước quá căng thẳng, có thể đồng chí Trợ tìm đường về hậu cứ. Tôi không nghĩ đồng chí Trợ đi chiêu hồi. Đồng chí Khuynh phát biểu: Tôi về đội phẫu sau đồng chí Trợ, qua các đợt phục vụ chiến dịch, tôi rất tin cô ấy. Nhiều lần gặp khó khăn nhưng cô ấy vẫn giữ được vai trò đầu tàu của một Đảng viên. Còn bây giờ cô ấy ở đâu thì tôi cũng đang tự hỏi mình. Đồng chí Châu Ngọc Thân, tổ trưởng Đảng thì nói chắc chắn: Tôi xin khẳng định, đồng chí Trợ bản lĩnh vừng vàng. Chiến dịch Xuân 1968, đội phẫu bị B52 rồi trực thăng lùng sục ở Nghĩa Lâm (Quảng Ngãi), chiến dịch A15 ở Hoài Nhơn năm 1969, đồng chí đều được khen thưởng. Nay ở trên đất quê mình, đồng chí không thể phản bội chúng ta. Nhưng nay, ở đây quá gần ấp Mỹ Hoà (ấp chống cộng), dẫu 1% nghi vấn, chúng ta cũng nên đề phòng - Tôi về muộn nên phát biểu sau cùng, khẳng định cô Trợ không đi chiêu hồi, và dẫn chứng thêm: Đợt hoạt động A15 ở hang đá Cẩm Đức cuối 1969, từ Hoài Nhơn, một mình đồng chí Trợ hộ tống 3 ca thương, đồng chí Tĩnh đi trước, bị Mỹ bắn chết, cô cũng bị thương, thương binh chạy mỗi người một ngả. Đồng chí Trợ đã bình tĩnh đi tìm đủ thương binh rồi lách địch tìm đường về hậu cứ. Bị lạc 2 ngày 2 đêm, mưa, lạnh, đói, vết thương sưng vù nhưng cô đã quên mình, chăm sóc anh em và đưa về an toàn. Đội phẫu lúc đó đã gọi cô là “Bà út tịch” của đội... Ngừng một lát, tôi nói khẽ, giọng hơi run: Chỉ sợ, bọn biệt kích Mỹ bắt về đâu đó giỡn chơi như mèo vờn chuột.

Cuối cùng đồng chí Ai kết luận: Dù tin đồng chí Trợ không đi đầu thú, nhưng mọi người vẫn chuẩn bị di chuyển qua vị trí mới do đồng chí Đáng đã bố trí. Phải báo cáo sự việc với Chủ nhiệm Hậu Cần (đồng chí Bách) ở Sở Chỉ huy cơ bản, đồng chí Thân, Phó Chủ nhiệm ở Sở Chỉ huy tiền phương Trung đoàn.

Thêm một ngày căng thẳng chờ đợi trôi qua. Đêm đó không có thương binh, chỉ có gạo về. Khu trạm vắng ngắt, không một tí gió, tiếng ve sầu kêu da diết, nghe càng thêm nóng bức. Dù không tin nhưng trong đầu tôi cứ lảng vảng ý nghĩ: Nếu cô ấy đi chiêu hồi thì cả tuyến đường và kho, trạm vừa mới mở sẽ bị lộ hết, rồi những khó khăn về vật chất và tư tưởng bộ đội, địch sẽ biết, chúng sẽ đánh phá mạnh hơn. Tôi trằn trọc suốt đêm, không tài nào ngủ được.

Sáng ngày thứ 3, tôi lại ra hố nước, nơi cô Trợ đi giặt băng, sau đó lần theo mấy cây ổi ven đồi để xem có dấu vết người hái quả không. Tới cuối gò, tôi thấy một quả ổi xanh nằm ngay dưới gốc cây, xung quanh gốc có dấu chân dẫm sương trên cỏ, lần theo dấu chân ấy về đến hố nước của bếp ăn đơn vị thì mất. Ý nghĩ cô Trợ bị lạc lớn dần trong đầu. Tôi đề xuất với Chính uỷ Huỳnh Hữu Ai cho thêm người cùng tôi đi tìm. Thấy tôi hăng hái, đồng chí Hồng, chiến sỹ vận tải nói chen vào: “Đề nghị thủ trưởng Ai treo giải, ai tìm được cô Trợ thì gả cô Trợ cho đồng chí đó, vừa khao thưởng, vừa để cô ấy khỏi chòng chành.”

Chiều hôm đó tôi đi về phía gò có nhiều cây ổi. Nếu đồng chí Trợ bị lạc sẽ đói và sẽ đi tìm trái cây để ăn. Đi tới, đi lui, đi ngang, đi dọc khu gò. Trời gần tối, tôi định quay về. Bỗng giật mình thấy trước mặt, một người đang ngồi tắm. Cứ như trên trời rơi xuống. Nhìn kỹ, đúng là Trợ rồi. Tôi nép vào bụi cây hồi hộp tự hỏi: Có nên gọi không, mắt theo dõi không buông, sợ cô biến mất. Lần đầu tiên trong đời, nhìn một người con gái tắm trần, tôi thấy nóng mặt, tự ngượng, nhưng lại vẫn muốn nhìn. Thì ra, con gái giải phóng, mặc quần áo thùng thình thì không mấy ai để ý nhưng bên trong, thân thể của họ có đường nét rất đẹp và hấp dẫn. Tôi nhắm mắt nhưng sợ cô biến mất nên lại “phải” nhìn, đành chịu tội mất nết xem lén nẫu tắm. Trong lòng không khỏi lo lắng: Tội nghiệp, 3 ngày nay đói, sao mà tắm lâu vậy?

Khi Trợ vừa mặc áo quần xong, tôi mới khẽ gọi: “Cô Trợ, cô Trợ phải không? Tôi, Đáng đây.”

Trợ dừng lại luống cuống hỏi: “Anh Đáng! Ôi! Anh Đáng! Đơn vị đi đâu cả mà vắng teo, em tìm không ra?” Rồi chợt như nhớ ra điều gì, cô hỏi: “Anh đến lâu chưa?” Tôi trả lời thành thật: “Lâu rồi!” Cô khẽ kêu lên: “Thôi chết, anh nhìn em tắm?”. “Ừ! Có nhìn nhưng không bị tội cố ý. Tôi đi tìm cô!” Trợ nắm lấy tay tôi: “Eo ôi, em bắt đền anh. Em bắt đền anh!” Tôi nói vui: “Hết chiến tranh anh sẽ trả, còn bây giờ lại chỗ tảng đá ngồi, kể anh nghe.” Trợ chủ động hỏi: “Chắc cả đơn vị cho rằng em đi chiêu hồi phải không anh? Họ di chuyển đi nơi khác phải không ? Sao vắng tanh thế này?...” Tôi sốt ruột hỏi lại: “Tại sao cô không về? Cả đơn vị và anh chị em đều lo cho em suốt mấy ngày nay.” Thế là Trợ ôm chầm lấy tôi mà khóc. Cô nói trong nước mắt:

- Anh! Thủ trưởng ơi! Em ngốc quá, không thể nào tìm ra đường mà về. Khổ tâm em lắm, anh có tin em đi lạc không?

- Không tin mà đi tìm cô?

Trợ kể: Sáng hôm ấy, trời còn mù sương, em tranh thủ đi giặt băng. Phải đổ nước bẩn đi xa hố nước nên về chậm. Các anh gác đường đã nguỵ trang quá tốt nên em không tìm được dấu vết để về. Em đi đi lại lại mấy vòng nhưng càng đi càng mất phương hướng. Em hoảng quá, càng lo sợ càng làm em lúng túng, quẫn trí. Chỉ sợ gặp địch sục sạo. Sáng chưa ăn, em thấy đói và khát, lần tìm cái ăn, nước uống. Gặp một hang đá, em lại chui sâu hơn. Nằm trong hang em nghĩ: Chắc là đơn vị đoán mình đi chiêu hồi nên đã chuyển chỗ ở. Em tìm cục đất khô viết lên vách đá: “Trợ này không bao giờ phản bội Đảng và đồng đội”. Anh muốn xem, em đưa anh vào hang đá xem!

Tôi bảo: khỏi cần, cô cứ nói tiếp đi!

“Em nằm lì chờ chết trong hang. Nhưng không chết mà bụng đói cồn cào. Nhắm mắt mà không ngủ được, cứ nghĩ vẩn vơ và nhớ các anh, nhớ mấy chị em”. Tôi nói xen vào để Trợ bớt xúc động: “Thế có nhớ riêng tôi không?” Trợ đánh khẽ vào vai tôi và bảo: “Đừng nói xạo. Nhưng cũng lạ thiệt, sao lại thấy anh đầu tiên sau bao nhiêu ngày bị lạc?” Rồi Trợ nhắc tới những ngày nấu một ăng-gô nhưng cơm lại thừa vì ai cũng nhường nhau. Một ngày hành quân ăn 6 quả chuối vẫn để dành 1 quả cho người ăn khoẻ... Anh em sống với nhau như thế mà nay lại chết ở đây. Một cái chết không rõ ràng. Có thể còn mang tiếng phản bội. “Thế là em vùng dậy” – Trợ nói tiếp: “Mình phải sống, phải tìm về đơn vị. Em bò ra khỏi hang đi hái ổi. Ăn xong lại đi loanh quanh, tối lại về hang. Và hôm nay em ra tắm”. Trời đã lờ mờ tối, Trợ giục tôi: “Ta về đi anh. Bây giờ thì em phải theo sát anh!” Tôi nói vui: “Là em bảo đấy nhé. Hãy theo tôi về nhà. Hết chiến tranh tôi còn sống sẽ đến hỏi em, không phải trầu rượu nữa nhé!” Trợ cũng không phải vừa, đáp lại: “Em sẽ theo về nhà anh không cần lễ hỏi, nhưng lúc đó anh phải chịu là người tù của em...”

Trời tối hẳn thì chúng tôi về tới trạm. Lách qua mấy chiếc võng dù ở sườn đồi, tôi dắt Trợ đi thẳng xuống bếp. Cô Sơn, nuôi quân đang nằm trên võng hát khẽ: “Ngày mai em lên...”. Tôi chợt cắt ngang:

- Báo cáo bếp trưởng! Tôi, Đại đội bậc trưởng, Trưởng ban Kế hoạch xin 2 phần cơm!

Cô Sơn biết tiếng tôi, không quay nhìn và hỏi luôn:

- Chị Liên đến na anh? (Liên là người yêu của tôi)

- Ừ .... ừa... Tôi ấp úng.

Sơn vẫn nằm trên võng, lúc đó mới ngoái nhìn 2 chúng tôi, rồi cô bỗng bật dậy, kêu lên:

- Trời đất! Mô Phật! Chị Trợ phải không? Chị Trợ thật rồi!

Tin lan nhanh khắp trạm. Mọi người kéo đến, người cười, người khóc chúc mừng...

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn