Sứ mệnh đặc biệt: Trở lại chiến trường Đông Nam Bộ
Đoạn trích tái hiện thời điểm lịch sử năm 1967, khi cuộc kháng chiến chống Mỹ chuyển sang giai đoạn then chốt. Tác giả kể lại hành trình "vòng vèo" nhưng đầy vinh dự khi tháp tùng đồng chí Phạm Hùng từ miền Bắc vào chiến trường B2 bằng con đường hợp pháp. Xuyên suốt đoạn kể là niềm tự hào về sự trưởng thành của Binh chủng Đặc công, gắn liền với lời dạy bất hủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Đặc công tức là công tác đặc biệt, là vinh dự đặc biệt, cần phải cố gắng đặc biệt". Cuối đoạn trích, tác giả c
Năm 1967 là một năm cự kỳ sôi động.
Oét-mo-len, tư lệnh quân đội Mỹ ở miền Nam đã gửi gắm tất cả niềm hy vọng của ông ta vào cuộc phản công chiến lược mùa khô lần thứ hai. Mà hướng chính của cuộc phẩn công này là chiến trường Đông Nam Bộ.
Cuộc hành quân Gian-xơn Xi-ty - một cuộc hành quân lớn nhất từ tháng 2 đến tháng 4 năm 1967 vào chiến khu Dương Minh Châu với bảy lữ đoàn Mỹ, hai chiến đoàn ngụy nhằm diệt cơ quan đầu não, diệt chủ lực của ta, triệt phá toàn bộ kho tàng căn cứ của ta và phong tỏa biên giới đã bị thất bại. Lực lượng đặc công bằng các hoạt động tác chiến độc lập, bằng phối họp với các đơn vị bộ đội bộ binh đã góp phần cùng quân dân Đông Nam Bộ đánh bại cuộc hành quân chiến lược của địch như đã đánh vào sân bay Tân Sơn Nhất phá 260 máy bay; vào sân bay Biên Hòa phá 184 máy bay; và vào các sân bay trực tiếp phục vụ các cuộc hành quân, các căn cứ Dầu Tiếng, Lai Khê, tổng kho Long Bình v.v...
Sau thắng lợi đập tan cuộc phản công chiến lược mùa khô lần thứ hai của địch, Trung ương họp, tiếp đến Bộ Chính trị họp quyết định chuyền cuộc chiến tranh cách mạng miền Nam sang một thời kỳ mới.
Cả miền Bắc hướng ra chiến trường.
Quyết định của Trung ương và Bộ Chính trị như một tiếng kèn xung trận thôi thúc. Binh chủng Đặc công được thành lập theo chỉ thị của Bộ đã tăng cường thêm lực lượng vào chiến trường- 2.563 cán bộ, chiến sĩ được tổ chức thành đội ngũ lên đường, chủ yếu là vào chiến trường B.2. Anh Cao Pha, phó tư lệnh binh chủng đi chiến trường Đường 9, anh Nguyễn Đức Trúng, tham mưu trưởng đi chiến trường B.3 (Tây Nguyên), anh Nguyễn Tư, phó tham mưu trưởng đi chiến trường Trị - Thiên - Huế...
Những ngày này trong binh chủng Đặc công, không khí lên đường đi chiến trường đã thực sự trở thành những ngày hội.
Mãi sau ngày 2 tháng 9 năm 1967, tôi mới được lệnh lên đường vào Nam chiến đấu.
Thế là điều mơ ước đến cháy bỏng trong tôi đã được thực hiện - mong ước được trở lại chiến trường.
Không một vấn vương, bịn rịn nào níu kéo đối với lần lên đường này, đã hơn mười năm tập kết ra Bắc tôi vẫn sống độc thân. Suốt khoảng thời gian dài ấy, tôi và những động đội của tôi đã thực sự sống một cuộc sống mong đợi, bởi ngày đêm tiếng gọi của chiến trường cứ hối thúc đối với những người con miền Nam (trong đó có tôi, đến lúc ấy vẫn còn ở lại miền Bắc).
Đi theo đường nào, bằng phương tiện gì? Đó là công việc của trên, do trên quyết định, mà cá nhân chỉ có nhiệm vụ nghiêm chỉnh chấp hành. Nhưng về phần mình, tôi phải chuẩn bị phương án khó khăn nhất, phải' sẵn sàng mọi thứ cho hành quân bộ, theo con đường “xẻ dọc Trương Sơn”, kể cả việc chiến đấu với địch mở đường mà đi. Nhưng không hiểu vì sao lúc này tôi lại mơ về một cuộc hành quân bằng xe đạp như tiểu đoàn 1 đặc công đã thực hiện hồi đầu năm 1967 mà tôi được chứng kiến. Hôm ấy vào một buổi sáng tháng Giêng, tiết trời bỗng rét đậm vì có đợt gió mùa đông bắc bổ sung, từ thông Hoàng Gián (Đông Triều) toàn tiểu đoàn hành quân bằng xe đạp, ngược đường 18 lên Phả Lại, qua Bắc Ninh xuôi về hướng Nam. Lúc ấy không quân Mỹ đang đánh phá miền Bắc rất dữ, hầu hết các cầu phà đều bị bom đạn Mỹ phá hỏng. Trong tình hình ấy, hành quân bằng xe đạp có vẻ an toàn, vừa cơ động. Nhưng cũng có trục trặc xảy ra. Đó là một đại đội trưởng của tiểu đoàn này đi xe chưa thạo, nên ngày đầu va quệt, ngã bị thương phải vào nằm viện. Bài học rút ra là do giản đơn, chủ quan, cho xe đạp không có gì phức tạp, ai cũng đi được nên không chú ý kiểm tra nhắc nhở mọi người phải tập luyện thật tốt trước lúc lên đường.
Tôi đang suy nghĩ chuẩn bị về chuyến đi sắp tới thì Bộ gọi lên phổ biến: Chuẩn bị sẵn sàng cùng đi với anh Phạm Hùng...
Tôi chưa hiểu thế nào thi đồng chí đại diện của Bộ đã giải thích và nói rõ thêm:
- Đồng chí Phạm Hùng, ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Chính phủ. - Ngừng một lát, đồng chí đại diện Bộ hạ giọng vừa như tiết lộ bí mật riêng với tôi, vừa cố ý nhấn mạnh tầm quan trọng của chuyến đi - Anh Phạm Hùng vào trong đó phụ trách Bí thư Trung ương cục thay anh Nguyễn Chí Thanh vừa mới mất...
Tôi thật xúc động khi thấy được tính chất quan trọng của chuyến đi. Tuy các anh trên Bộ không giao nhiệm vụ nhưng tôi tự ý thức được rằng, mình phải có trách nhiệm bảo vệ anh Phạm Hùng suốt chặng đường, mặc dầu lúc ấy chưa được trên phổ biến ngày giờ và cách thức đi như thế nào.
Hai hôm sau trên điện xuống Bộ tư lệnh binh chủng, nhắc tôi chuẩn bị gấp các thủ tục để đi làm hộ chiếu. Nhận điện xong, tôi thấy mình ngỡ ngàng, khó hiểu. Bởi nói đến hộ chiếu là nói đến việc đi nước ngoài, nói đến công tác ngoại giao, điều không bao giờ tôi nghĩ tới. Nhưng rồi mọi suy đoán không tìm ra đáp số đã được các anh ở trên giải đáp liền sau đó: xin cấp hộ chiếu là để tạo điều kiện cho tôi đi theo đường công khai, hợp pháp bằng phương tiện máy bay. Tất nhiên sẽ phải vòng vèo qua một số nước rồi mới đến B.2, dù sao cũng nhanh gấp nghìn lần nếu hành quân bộ theo đường Trường Sơn. Đại để là như vậy, còn cụ thể phải làm gì, đi đường nào, sẽ có hướng dẫn sau, anh khỏi lo.
Thế là tôi đã thực sự yên tâm, một thứ yên tâm xen lẫn bồn chồn, chờ đợi cùng với những lo lắng.
Ba ngày sau khi làm xong hộ chiếu, chiếc xe com-măng-ca đưa tôi thẳng đến sân bay Gia Lâm vào một buổi sáng dịu mát, bầu trời trong xanh. Dấu vết bom đạn Mỹ vẫn hằn trên mặt sân bay, trên các tấm mái tôn của nhà chờ, lỗ chỗ nhiều vết đạn, tạo thành những hoa nắng hình tròn lung linh in xuống nền nhà. Thoáng có bóng người đi lại, ngồi đứng trong nhà đợi. Đến gần mới rõ, đó là phái đoàn Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam do anh Trần Bửu Kiếm dẫn đầu cũng cùng đi chuyến máy bay này. Đồng chí cán bộ giao liên dẫn tôi vào gặp anh Phạm Hùng đang ở căn phòng nhỏ phía bên trái nhà đợi để nhận nhiệm vụ. Vừa đến cửa, tôi chưa kịp chào thì anh Phạm Hùng đã nắm chặt tay tôi, giọng xởi lời, thân mật:
- Tư Cường phải không?
- Dạ!
Tôi đáp lại rồi cứ thế ngắm nhìn anh. Anh vận bộ đồ công tác bằng vải tít-xuy màu ghi, thắt ca vát màu nâu sẫm, dáng vẻ một người làm công tác ngoại giao có chú ý đến sự chải chuốt nhưng vẫn tỏ ra là một cán bộ có đức độ; cái giản dị, đôn hậu, chân thành vẫn hiện đậm trên khuôn mặt, tỏ rõ trong cử chỉ, lời nói.
Bom Mỹ đã làm cho căn phòng biến dạng, cửa kính vỡ, tường có vết nứt và một mảng vữa đã rơi, trơ ra hàng gạch phía sau mốc xám. Nhưng những nhân viên hàng không có trách nhiệm tiếp khách vẫn tạo cho căn phòng sạch sẽ, ngăn nắp, với bộ bàn ghế được kê ngay ngắn, trên đặt bộ ấm chén của nhà máy sứ Hải Dương trắng muốt, có cả gói chè Hồng Đào và gói thuốc lá Điện Biên bao bạc.
Anh Phạm Hùng kéo ghế bảo tôi ngồi. Trước hết anh biểu dương tôi: Khá lắm! Tư kiếm đâu ra được bộ đồ com lê vừa in, nom y hệt một nhân viên ngoại giao thực thụ, chứ không phải là “đặc công cộng sản”.
Tôi chưa kịp thưa lại thì anh Phạm Hùng vào việc luôn. Bằng giọng nói sôi nổi, thân mật anh chỉ thị:
- Tôi và Tư đi cùng với đoàn anh Trần Bửu Kiếm, đóng vai đoàn viên. Khi lên máy bay ta ngồi hàng ghế sau cùng để tránh con mắt tò mò của những người lạ mà mình không biết họ là ai, làm gì, quốc tịch nước nào. Mọi việc xử trí đã có anh Trần Bửu Kiếm lo, ta chỉ có nhiệm vụ duy nhất là không nói chuyện - rồi anh cười sảng khoái nói tiếp - ngậm miệng ăn tiền mà Tư!
Ngoài kia máy bay đã nạp xăng, động cơ bắt đầu khởi động, bật thành một âm thành ầm ì gầm xé vang xa, làm náo động khoảng không gian hẹp, ập đến nhà chờ, gây khó chịu trong vỏ não mọi người. Anh Phạm Hùng nhìn đồng hồ, rồi kết luận như một mệnh lệnh lên đường:
- Chặng đầu hãy cứ thế. Các chặng sau sẽ tùy thuộc vào diễn biến cụ thể mà có bổ sung.
Đã gần đến giờ máy bay cất cánh. Tất cả chúng tôi đều tề tựu dưới chân máy bay, nơi hành khách lên xuống.
Cuộc tiễn đưa không diễn ra, đáp từ mà chỉ có những cái bắt tay lắc mạnh kèm theo những lời chào thắng lợi và những cái nhìn vừa lưu luyến vừa kiên nghị của những người ở lại đối với người ra đi. Tất cả đều diễn ra nhanh gọn. Máy bay lăn bánh trên đường băng rồi tăng tốc rời khỏi mặt đất, nâng dần độ cao. Bầu trời trong suốt từ trên nhìn xuống không một gợn mây, cảnh vật hiện ra dưới nắng sớm đầu thu thật đẹp. Sông Hồng hết hung dữ, chảy hiền hòa quanh co uốn khúc như dải lụa đào bay theo gió, bên phía tả ngạn hiện rõ những chuôm nước hình tròn đều cách nhau, vạch thành một đường băng qua cánh đồng huyện Kim Anh, đến tận chân dãy núi Tam Đảo. Đó là dấu chân ngựa Gióng sau khi đánh tan giặc Ân, trở về dãy núi Sóc Sơn rồi biến mất... Chuyện đã đi vào ký ức nhận thức của mỗi con người, nhưng hôm nay bay qua nơi đây tự nhiên tôi thấy lòng mình rung động lạ thường...
Một trục trặc không nhỏ xảy ra ngay chặng đường khởi đầu này. Đó là hộ chiếu của anh Phạm Hùng vẫn còn nằm tại Hà Nội, mà nguyên nhân là do đồng chí bí thư của anh đã quên không bỏ nó vào cặp cho anh, mặc dầu trước khi đi anh đã nhắc đồng chí bí thư nhiều lần về việc này. Sau khi điện xin chỉ thị ở nhà, thì được trả lời: máy bay quay trở lại lấy hộ chiếu!
Trên đường bay về cũng thật hồi hộp. Sợ hệ thống phòng không của ta chưa nhận được điện báo hoặc chưa thông báo kịp thời xuống các trận địa lẻ là có máy bay ta bay qua, thi rất dễ bị thiêu cháy bởi lưới lửa phòng không dày đặc của ta từ mặt đất quạt lên!
Mọi người nhẹ nhõm thở phào khi máy bay hạ cánh an toàn xuống sân bay Gia Lâm, thì vừa lúc đó một máy bay lên thẳng từ Hà Nội bay sang cũng hạ cánh kề bên, làm nhiệm vụ chuyển hộ chiếu đến anh Phạm Hùng, vì lúc này cầu Long Biên vừa bị máy bay Mỹ đánh hỏng nhịp giữa cách đây hai giờ, ô tô không qua lại được.
Thế là chỉ trong một ngày, chúng tôi đã hai lần tạm biệt sân bay Gia Lâm, bay bổng lên bầu trời phía bắc của Tổ quốc để chiều hôm ấy có mặt ở thủ đô nước láng giềng. Chặng đường thứ nhất của chuyến đi như vậy là an toàn.
Chặng đường thứ hai, chúng tôi qua một số nước trung lập trên máy bay của Hãng hàng không Pháp với tiện nghi khá sang trọng. Cùng đi trên chuyến máy bay này có đoàn đại biểu chính phủ Thụy Điển và một số ký giả phương Tây. Vì thế anh Phạm Hùng đã lưu ý tôi: Ta càng phải giả đò là những đoàn viên thuộc cỡ rất bình thường, làm lạc hướng sự theo dõi của những người cùng đi, nhất là không để bọn CIA. giả danh đánh hoi thấy, theo dõi đường đi của ta, đặc biệt là chặng cuối cùng trước khi đến B.2. Anh vẫn không quên nhắc lại - ngậm miệng ăn tiền nghe Tư!
Mỗi con đường đi tới chiến trường đều có thuận lợi và khó khăn riêng. Con đường nào cũng là kết quả của sự tổ chức tài tình và khoa học của Đảng quang vinh, của Bác Hồ vĩ đại. Đường mòn Hồ Chí Minh, đường mòn trên biển, và đường dây họp pháp mà tôi được Đảng tin cậy cho đi hôm nay đều có những nét độc đáo, trong đó có điểm cho phép được kể cùng bạn đọc, nhưng có những chi tiết hành quân vẫn còn phải giữ kín với thời gian. Chỉ khi đặt chân vào tới chiến trường B.2 chúng tôi mới không còn đóng vai nhân viên ngoại giao nữa, mà trở lại sắc áo thân quen của chiến sĩ Quân giải phóng thực thụ hoạt động trên đất miền Đông: Quần áo bà ba đen, tăng, võng, tất cả đều bằng sợi tổng hợp nhẹ, xốp, chịu ngấm nước và cũng mau khô, đầu đội mũ tai bèo với nắm com vắt đeo bên hông.
Nhận xong các trang bị như thế, chúng tôi bắt đầu cuộc hành quân bộ, vượt qua một đoạn đường mất khoảng hai tiếng đồng hồ thì tới binh trạm đầu tiên kề với mảnh đất Đông Nam Bộ, lúc ấy khoảng lối 18 giờ (ngày 10 tháng 9 năm 1967). Tại đầy đã có một tổ giao liên vũ trang chờ sẵn để đón chúng tôi. Sau khi trả lời đúng mật khẩu, các đồng chí giao liên mừng rỡ đến ôm chầm lấy anh Phạm Hùng và tôi:
- Tụi cháu chờ các chú hoài à!
- Các chú từ ngoài Bắc vô phải không?
- Sao các cháu biết? - Tôi hỏi lại.
- Dạ, thấy chú mập quá mà!
Chúng tôi lên đường ngay, khi trời vừa chạng vạng tối thì cũng vừa tới Xóm Giữa, Lò Gò (Tây Ninh), nơi ở và làm việc của anh Nguyễn Hữu Thọ. Anh Thọ từ trong căn nhà nhỏ xinh lợp lá trung quân với dáng vẻ nhanh nhẹn bước vội ra sân, chìa tay nắm chặt tay anh Phạm Hùng, hai người cứ thế ôm nhau trong yên lăng hồi lâu. Một niềm vui gặp mặt tuy đã được báo trước mà vẫn cứ thấy ngỡ ngàng ở cả hai anh.
Anh Thọ tổ chức “chiêu đãi” cơm tối và giữ chúng tôi ngủ lại qua đêm...
Thế là sau khi bay qua một chặng đường hàng không vòng vèo, tôi đã đến với chiến trường Đông Nam Bộ. Giây phút đầu tiên thật bồi hồi, xúc động về cái mảnh đất xa mà gần, lạ mà thân quen gắn bó từ lâu, làm thức dậy trong tôi một ký ức khó quên, trở thành máu thịt. Ấy là khi lần đầu tiên được nghe các anh giáo viên đặc công quê ở Đông Nam Bộ kể về trận đánh theo kiểu “đặc công” đầu tiên ở quê anh, tại lóp học đặc công ở Liên khu V hồi tháng 10 năm 1952.
Chuyện ngẫu nhiên đó mới xảy ra vào một đêm cuối năm 1947, một du kích sau khi bảo vệ đoàn cán bộ vượt qua đường Tân Ba - Tân Uyên trở về, thì trời đổ mưa to kèm theo là sấm chớp rất dữ; quần áo ướt sũng, toàn thân run lên vì thấm lạnh, anh liền đến một tháp canh của địch cạnh đó trú tạm vì quanh đấy đều tráng địa. Nhưng do cái việc “liều” không tính trước ấy đã giúp anh phát hiện địch có rất nhiều sơ hở, diệt chúng dễ ợt. Nhưng cái bí mật là lấy đâu ra vũ khí, chí ít cũng phải có dăm ba trái nổ (lựu đạn). Sáng hôm sau, anh dậy sớm tìm đến một đơn vị bộ đội địa phương đóng gần đó hỏi mượn trái nổ. Lúc này vũ khí thật hiếm, bộ đội tập trung huyện, tỉnh chỉ được trang bị loại trái nổ 0F do xưởng quân giới Miền tự sản xuất, nhưng cũng không được nhiều.
Đồng chí chỉ huy đơn vị nửa đùa nửa thật nói:
- Mượn thì phải trả, có chịu không?
- Chịu chứ! - Đồng chí du kích tự tin khẳng định - Đánh thắng về tôi trả lãi gấp đôi.
Có được ba trái lựu đạn, đêm đó anh mang thêm một cái thang sau đó bí mật tiếp cận, anh bắc thang trèo lên cửa ra vào, cứ thế thả trái nổ xuống chổ địch nằm chẳng khác nào thả cái vào lỗ đáo. Chỉ có ba trái nổ, toàn bộ bọn địch bị diệt gọn, thu tám súng...
Ba tháng sau (đêm 18 rạng 19 tháng 3 năm 1948) từ chuyện thắng lợi bất ngờ mà giòn giã kể trên, du kích Tân Uyên do đồng chí Trần Công An (tức Hai Cà) trợ lý tác chiến huyện đội, đã vận dụng vào trận tháp canh cầu Bà Kiên (ấp Mỹ Chánh, xã Phước Bình) diệt toàn bộ địch ở đây. Tiếp đó đêm 18 rạng 19 tháng 5, đồng chí Trần Công An lại chỉ huy du kích bí mật tiềm nhập, cắt rào, dùng bộc phá tự chế “FT” (phá tường) đánh sập tháp canh cầu Bà Kiên lần thứ hai. Các kiểu công đồn đặc biệt đó được anh em đặt cho cái tên là “đặc công”. Những chuyện trên tuy đơn sơ, mộc mạc nhưng đã gây cho tôi những cảm xúc không quên với những người đi trước. Tất cả những sự kiện và những con người đó, trên chính mảnh đất mà tôi đang đứng này, cứ nối tiếp hiện lên như cổ vũ khích lệ tôi về một quá khứ thật anh hùng.
Sáng hôm sau, tôi lên chào anh Phạm Hùng và anh Nguyễn Hữu Thọ, theo đồng chí giao liên đưa đến nơi ở và làm việc của anh Sáu Nam (đồng chí Lê Đức Anh) nhận nhiệm vụ.
Tuy mới gặp anh lần đầu nhưng tôi biết anh, cũng qua chuyện kể ở lớp học đặc công Liên khu V:... Ngày ấy (tháng 2-1952) với cương vị tham mưu trưởng Liên khu VII (Đông Nam Bộ), anh tổ chức một đoàn gồm mười cán bộ của các tiểu đoàn chủ lực đã từng tham gia nhiều trận “công đồn đặc biệt” và đã tham gia lớp huấn luyện kỹ thuật tác chiến đặc công ở Sình Bà Đá (chiến khu D) hồi năm 1949, đi cùng anh ra Bắc công tác.
Trên đường đi, đoàn có nhiệm vụ phổ biến kinh nghiệm chiến đấu đặc công cho một số tỉnh mà đoàn sẽ đi qua trong đó có lớp huấn luyện ở Liên khu V.
Như vậy là anh đã gắn bó với đặc công ngay từ buổi sơ khai, chứng kiến những bước phát triển của lối đánh giặc độc đáo này. Sự gắn bó vô hình giữa anh và tôi - những chiến sĩ đặc công của Nam Trung Bộ, cũng bắt đầu từ cái buổi ra đi xa xưa của anh.
Hôm nay anh gọi đến giao nhiệm vụ, tôi thấy anh vẫn rất say sưa tâm đắc với binh chủng và cách đánh của đặc công. Mặc dầu lúc này công việc rất khẩn trương, anh vẫn lưu tôi lại đây một tuần để trao đổi công việc. Anh kêu cả anh Ba Trần (tức Trần Văn Danh) cục phó Quân báo. Hai Nghiêm1 cục phó Tác chiến Miền đến cùng nghe tôi báo cáo tình hình phát triển của lực lượng đặc công và những kinh nghiệm tổ chức xây dựng và chỉ huy chiến đấu của lực lượng đặc công ở chiến trường B.l, B.3, v.v... mà Bộ tư lệnh Đặc công đã giao cho tôi nhiệm vụ vào báo cáo với B.2, trước lúc lên đường. Thật cảm động được các anh dành cho sự ưu ái này, nhưng cũng vì thế mà tôi trở nên lúng túng, không biết báo cáo như thế nào, nên bắt đầu từ đâu?
Phút im lặng đó trôi nhanh. Tôi lần lượt báo cáo cùng các anh những chỉ thị của Bác Hồ, Bộ Chính trị, Trung ương Đảng sau những lần trực tiếp nghe đại diện đặc công và những kinh nghiệm tổ chức xây dựng và chỉ huy chiến đấu của lực lượng đặc công lên báo cáo về tình hình tổ chức lực lượng, huấn luyện chiến đấu chi viện cho tiền tuyến miền Nam; về các trận đánh vừa có hiệu suất chiến đấu cao vừa mang lại những bài học chỉ đạo nghệ thuật tác chiến đặc công như các trận Tua Hai (Tây Ninh), Núi Thành (Quảng Nam), Plây Me (Plây Cu) v.v...
Quá trình nghe tôi trình bày, anh Ba Trần đã hỏi sâu hơn về đơn vị đặc công tham gia đánh vào trại lính Mỹ Hô-lô-uây ở thị xã Plây Cu hồi tháng 2 năm 1965, bởi trận đánh có sức thối động mạnh mẽ, buộc Nhà trắng Mỹ phải khẩn cấp họp Hội đồng an ninh quốc gia quyết định di chuyển phụ nữ, trẻ con Mỹ ra khỏi Sài Gòn... Anh Hai Nghiêm khai thác các khía cạnh về nghệ thuật chỉ đạo tác chiến đặc công, về tổ chức hợp đồng chiến đấu giữa đặc công và bộ binh trong các chiến dịch tổng họp.
Sự chú ý theo dõi và những câu hỏi xen kẽ của các anh càng khích lệ tình thần phấn hứng trong tôi, khiến tôi càng say sưa kể. Từ những đơn vị nhỏ lẻ lúc đầu đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Cục Quân báo Bộ Tổng tham mưu đến giữa năm 1966, Quân ủy Trung ương đã quyết định hợp nhất ba đơn vị: Lữ đoàn 305 dù (trực thuộc Bộ), trung đoàn 426 đặc công (trực thuộc Cục Quân báo) và đoàn 126 đặc công nước (trực thuộc Bộ tư lệnh Hải quân) để thành lập binh chủng Đặc công.
Với tư cách là người được chứng kiến trực tiếp, tôi đã tường thuật tỉ mỉ cùng các anh về buổi Bác Hồ đến thăm trung đoàn 426 đặc công và xem trung đoàn này trình diễn kỹ thuật, chiên thuật đánh căn cứ Mỹ, tổ chức tại trường Dân tộc Trung ương(1) vào tối 19 tháng Ba năm 1967. Dưới ánh đèn pha cực sáng, mọi người nhìn rõ Bác ngồi trong sương đêm giá lạnh dáng vẻ ung dung, thư thái, thỉnh thoảng chòm râu bạc của Bác lại rung rung kèm theo là nụ cười đôn hậu, ân tình, tỏ ý bằng lòng các chiến sĩ đặc công thực hành kỹ thuật tiềm nhập giỏi như có “phép thuật” tàng hình, bò sát nơi Bác ngồi mà Bác không biết. Khoa mục huấn luyện kết thúc, tiết trời càng lạnh, Bác vẫn ở lại nói chuyện với cán bộ, chiến sĩ có mặt trong buổi tập tối hôm đó. Một không khí trang nghiêm mà ấm tình cha con lan tỏa khắp hội trường lớn của trường Dân tộc. Bác nói ngắn gọn mà sâu sắc, chứa đựng những vấn đề rất cơ bản về phương hướng, nội dung, nguyên tắc cho bước đi lên mãi mãi của binh chủng; đặc biệt chúng tôi được Bác chỉ thị một cách đầy đủ, rõ ràng về nhiệm vụ, tính chất của binh chủng:
"... Đặc công tức là công tác đặc biệt, là vinh dự đặc biệt, cần phải cố gắng đặc biệt”.
Ngay hôm đó và mãi mãi sau này, chúng tôi ghi lòng tạc dạ lời dạy bất hủ của Bác đối với binh chủng. Đó chính là một mệnh lệnh quân sự, một chỉ thị lãnh đạo của vị lãnh tụ, vị thống lĩnh tối cao của dân tộc, của Đảng quang vinh, mà mỗi cán bộ, chiến sĩ đặc công phải tâm niệm, nghiêm chỉnh chấp hành.
Ngày 19 tháng Ba năm 1967 - ngày Bác đến thăm và chỉ thị những điều quý báu và công bố chính thức thành lập Binh chủng Đặc công...
Đến ngày cuối cùng của một tuần lễ tôi lưu lại ở nơi làm việc của anh Lê Đức Anh, hom đó anh mới chính thức giao nhiệm vụ:
- Đông Nam Bộ là đất dụng võ của đặc công đấy. Tình hình đang rất khẩn trương, hướng nào cũng cần có đặc công. Đồng chí vào thời điểm này là rất đúng lúc.
Không gian yên ắng, một chút yên ắng thật hiếm ở nơi chiến trường đang còn đặc quánh cái mùi hăng hăng đến khó chịu của bom đạn Mỹ trút xuống sau hai cuộc phản công mùa khô vẫn còn lan tỏa quanh đây.
Anh nghiêm nghị nhưng vẫn thấy cái xởi lởi, dễ gần. Giọng anh pha trộn nhiều miền của đất nước nhưng vẫn thoáng nghe được cái âm sắc của Thừa Thiên - Huế nơi quê anh - nhỏ nhẹ, chậm rãi, dễ nghe:
- Là chiến sĩ đặc công lại về công tác ở phòng Đặc công, đồng chí về đó sẽ rõ công việc phải làm. Quyết tâm có rồi, lúc này là suy nghĩ tìm biện pháp thực hiện.
Tôi vẫn chăm chú tiếp nhận nhiệm vụ anh giao. Nhưng đến đây, anh đứng dậy chủ động chìa tay nắm chặt tay tôi, nét mặt anh rạng rỡ:
- Chúc đồng chí thu nhiều thắng lợi!
Tôi rút chân đứng nghiêm, chào theo tư thế quân sự.
Anh nắm tay tôi lần nữa, nói thêm, như có ý nhấn mạnh:
- Tình hình khẩn trương lắm rồi. Vấn đề lúc này là phải hành động.
Không khí chiến trường, phong cách năng động của người chỉ huy ở nơi anh đã truyền sang tôi một cách mạnh mẽ bằng chính những cử chỉ, lời nói của anh.
Tôi hăm hở về nhanh với gia đình đặc công của mình. Đó là phòng Đặc công trực thuộc Bộ Tham mưu Miền có bí danh là 216. Gọi là gia đình vì ở đó tôi sẽ được gặp lại bạn bè, đồng chí đã từng san sẻ niềm vui, nỗi nhớ những ngày đầu tiên khi mới tâp kết ra Bắc, từng cùng nhau qua các lóp chuyển binh chủng, qua khổ luyện kỹ thuật ở Xuân Mai, Vĩnh Phú, ở biển Hải Phòng để rồi lần lượt bổ sung vào chiến trường trong đó có phòng Đặc công Miền.
Gọi là phòng nhưng cơ cấu tổ chức cũng thật đặc biệt, có ban tham mưu, chính trị, hậu cần để làm chức năng vừa xây dựng, huấn luyện đặc công nói chung, vừa chỉ huy các đơn vị đặc công trực thuộc Miền trong các đợt hoạt động độc lập, trong các chiến dịch binh chủng hợp thành và các chiến dịch tổng họp do Bộ chỉ huy Miền và Trung ương cục chủ trương.
Việc chuẩn bị thực hiện Nghị quyết Trung ương lần thứ 14 và Nghị quyết Bộ Chính trị “chuyển cuộc chiến tranh cách mạng miền Nam của ta sang một thời kỳ mới”, khi về phòng Đặc công Miền tôi mới dần dần biết ra nhưng công việc phải làm đã được trong này tiến hành rất sớm. Mọi công việc đã gần như đâu vào đó. Tập thể phòng Đặc công Miền đã quy tụ được những con người đảm đang, tháo vát, rất năng nổ với công việc cụ thể nhưng cũng có cái tầm nhìn xa. Có đến đây, có vào đây mới thấy hết mảnh đất miền Đông này hoàn toàn có quyền tự hào là cái “nôi” của phương thức tác chiến đặc công. Từ xây dựng thế trận, tổ chức lực lượng và những cung cách làm ăn mới của bộ đội đặc công trong thời kỳ chống Mỹ đã được Bộ tư lệnh Miền chỉ thị sát sao, được tập thể phòng Đặc công Miền thực hiện một cách suôn sẻ và sáng tạo. Cho đến lúc ấy, các sư đoàn bộ binh 5, 7 và 9 đều có tổ chức một đại đội đặc công - lấy phiên hiệu thống nhất là C.100, sau phát triển thành tiểu đoàn cũng lấy phiên hiệu thống nhất là D.28, để tiện quản lý và chỉ huy chiến đấu độc lập hoặc hợp đồng binh chủng. Ngoài ra phòng còn trực tiếp nắm hai tiểu đoàn đặc công cơ động trực thuộc Miền, đảm đương nhiệm vụ độc lập hoặc nằm trong đội hình chiến dịch trên các hướng chủ yếu, tham gia đánh các trận then chốt.
Từ tháng 5 năm 1967, Trung ương cục và Quân ủy Miền quyết định giải thể Quân khu VII và Quân khu Sài Gòn - Gia Định thành lập sáu Phần khu trực thuộc Bộ tư lệnh Miền để tiện việc tổ chức chỉ huy và lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ. Mỗi Phân khu1(trừ Phân khu 6 nội đô) đều có từ 1-2 tiểu đoàn “mũi nhọn” được trang bị mạnh, được huấn luyện thêm về chiến thuật và kỹ thuật đặc công, làm nhiệm vụ tiếp ứng cho lực lượng nội đô đánh chiếm các mục tiêu đã định như sân bay Tân Sơn Nhất, bộ tổng tham mưu ngụy, dinh Độc Lập, đại sứ quán Mỹ, tổng nha cảnh sát, biệt khu thủ đô, đài phát thanh v.v... khi có lệnh. Để hỗ trợ cho hai lực lượng này làm nhiệm vụ, hai sư đoàn 9 (đứng chân ở Tây Ninh), sư đoàn 7 (đứng chân ở Lái Thiêu) sẽ bước vào chiến đấu phối hợp khi cần thiết.
Việc phân chia như trên là để thực hiện năm phân khu theo năm hướng từ ngoài đánh vào, kết hợp cùng Phân khu 6 - với lực lượng trong tay có 11 đội biệt động làm nòng cốt, nổi dậy từ trong đánh ra, chiếm các mục tiêu quan trọng trong nội đô.
Tuy chưa được giải thích cụ thể nhưng bằng những việc chuẩn bị khẩn trương và hối hả, bằng việc tổ chức phân chia lại chiến trường chúng tôi tự phán đoán có lẽ Đông Nam Bộ được coi là hướng chính, trong đó Sài Gòn và vùng ven là nơi diễn ta các trận then chốt, quyết định. Nghĩ như thế tôi càng phấn hứng và tự hào được có mặt trên mảnh đất sắp sửa diễn ra trận bão lửa đầy ý nghĩa, góp phần làm chuyển biến thật rõ rệt về cục diện của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta. Tôi bắt tay vào việc được phân công, nhanh chóng thích nghi hòa nhập với cuộc sống nơi đây. Phòng Đặc công chúng tôi làm việc ăn ý, theo một định hướng thống nhất - tất cả vì phía trước, tất cả cho chiến thắng.


