Bài viết

Sự nghiệp cách mạng và những đóng góp lịch sử của nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình

Bài viết tổng hợp chi tiết về quá trình hoạt động cách mạng, dấu ấn đối ngoại xuất sắc tại Hội nghị Paris năm 1973, cùng những cống hiến toàn diện cho ngành giáo dục và bộ máy Nhà nước của bà Nguyễn Thị Bình — nữ Bộ trưởng Ngoại giao đầu tiên của Việt Nam.

Đà Nẵng15/08/2026Đoàn xã Hàm Liêm (Hàm Liêm)2 lượt xem0 lượt chia sẻ
Sự nghiệp cách mạng và những đóng góp lịch sử của nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình

I. Thông tin cơ bản và quá trình hoạt động cách mạng trước năm 1968

1. Thông tin cơ bản

Bà Nguyễn Thị Bình có họ tên khai sinh là Nguyễn Thị Bình, tên thật là Nguyễn Châu Sa, họ tên thường gọi là Nguyễn Thị Châu Sa. Bà sinh ngày 26 tháng 5 năm 1927 tại tỉnh Sa Đéc, nay là tỉnh Đồng Tháp. Quê quán của bà ở xã Điện Quang, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam (cũ). Bà là người dân tộc Kinh, không theo tôn giáo nào, nơi ở hiện nay tại số 68B Trần Hưng Đạo, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội.

1000022405.jpg

[Nguyễn Thị Bình]

2. Giai đoạn 1945 - 1954

Năm 1945, khi vừa học hết Tú tài phần một, bà gác lại ước mơ làm bác sĩ để đi theo cách mạng. Bà bắt đầu tham gia phong trào quần chúng giành chính quyền tại Sài Gòn, tham gia cứu tế nạn đói và chuyển vũ khí ra chiến khu cho Chi đội I Miền Đông. Bà tham gia các phong trào yêu nước, vận động trí thức Sài Gòn - Chợ Lớn ủng hộ cách mạng.

Từ tháng 02/1946 đến tháng 6/1947, bà là Uỷ viên Ban Chấp hành Phụ nữ cứu quốc, hộ 5, Quận 3, Sài Gòn - Chợ Lớn. Năm 20 tuổi, bà đã là Bí thư Đảng Đoàn Phụ nữ cứu quốc của thành phố, tham gia mặt trận Liên - Việt, sau đó làm Chủ tịch Hội Liên hiệp phụ nữ. Bà được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam tháng 10/1947 và trở thành đảng viên chính thức vào ngày 10/5/1948.

Từ tháng 7/1951 đến tháng 12/1954, bà bị địch bắt và giam tại khám Chí Hòa, làm Chi ủy viên Chi bộ nhà tù. Sau khi ra tù, bà tiếp tục tham gia phong trào đòi thi hành Hiệp định Giơnevơ.

3. Giai đoạn 1955 - 1968

Từ tháng 01/1955 đến năm 1957, bà được tổ chức điều ra miền Bắc, làm cán bộ của Hội liên hiệp Phụ nữ Trung ương. Từ năm 1957 đến 1959, bà học lý luận chính trị tại Trường Nguyễn Ái Quốc. Từ năm 1959 đến 1962, bà làm Trưởng ban Phúc lợi, Đảng đoàn phụ nữ Trung ương.

Nhờ có trình độ văn hóa, tiếng Pháp tốt, kinh nghiệm vận động nhân dân, từ tháng 7/1962 đến tháng 12/1968, bà được Đảng cử tham gia Ủy viên Trung ương phụ trách công tác đối ngoại Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam.

II. Dấu ấn ngoại giao lịch sử tại Hội nghị Paris (1968 - 1973)

1. Trọng trách ngoại giao

Giữa tháng 7/1968, bà được lãnh đạo phổ biến chủ trương đánh và đàm. Dưới sự tiến cử của đồng chí Xuân Thủy và được Bác Hồ đồng ý, bà được cử làm Trưởng đoàn trù bị đi dự Hội nghị bốn bên tại Paris.

Từ tháng 01/1969, bà giữ chức Bộ trưởng Ngoại giao Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, Trưởng đoàn đàm phán tại Hội nghị Paris. Trong cuộc hội đàm ròng rã 4 năm từ 1968 đến 1973, bà là nữ trưởng đoàn duy nhất trong 4 trưởng đoàn, và đoàn của bà cũng là đoàn duy nhất có thành viên nữ.

1000022413.jpg

[Quá trình đàm phán Hiệp định Paris được xem là "dài nhất lịch sử" với 4 năm 8 tháng 16 ngày để tiến tới chấm dứt cuộc chiến tranh dài nhất trong thế kỷ XX. Ảnh: Hội nghị bốn bên tại Paris năm 1973. Ảnh tư liệu]

2. Cuộc đấu tranh trên mặt trận truyền thông quốc tế

Ngày 4/11/1968, khi vừa đến Paris, bà đã làm chấn động dư luận, được đông đảo đại sứ, đại diện các tổ chức quốc tế chào đón nồng nhiệt như một quốc trưởng. Báo chí phương Tây gọi bà là Madame Bình. Bà gây ấn tượng mạnh với phát biểu về giải pháp 5 điểm của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, nhấn mạnh quyền độc lập, yêu cầu Mỹ rút quân và quyền tự quyết của nhân dân miền Nam.

1000022409.jpg

[Bà Nguyễn Thị Bình, Bộ trưởng Ngoại giao của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, trong một cuộc phỏng vấn với truyền thông nước ngoài. Ảnh: En.baoquocte.]

Trong suốt quá trình đàm phán, thứ Năm hàng tuần, bà tổ chức họp báo tại phố Klêbe trong bộ áo dài truyền thống, bên ngoài khoác áo vét hoặc áo có cổ lông sẫm màu. Đối mặt với áp lực tiếp xúc có lúc hơn 400 nhà báo phương Tây, bà luôn trả lời bằng tiếng Pháp một cách sắc bén. Khi bị hỏi xoáy có phải là Đảng viên Đảng Cộng sản không, bà khẳng định mình thuộc Đảng yêu nước. Khi bị hỏi về quân đội miền Bắc ở miền Nam, bà dõng dạc tuyên bố dân tộc Việt Nam là một, người Việt Nam ở Bắc cũng như Nam đều có nghĩa vụ chống xâm lược.

Bà nhớ nhất cuộc họp báo truyền hình trực tiếp giữa năm 1971 với 20 nhà báo ở cả Paris và Washington, nơi bà tranh luận kiên cường bằng tiếng Pháp suốt gần 2 tiếng đồng hồ. Bà được ví như người phụ nữ khiêu vũ giữa bầy sói bởi sự nữ tính, uyên bác nhưng vô cùng quyết liệt trước sự tấn công của phía Mỹ. Dù vậy, bà vẫn khiêm tốn nuối tiếc rằng giá như tiếng Anh của bà thời kỳ đó cũng tốt như tiếng Pháp thì bà có thể làm được nhiều điều hơn.

3. Khoảnh khắc ký Hiệp định Paris

Vào lúc 10h sáng ngày 27/1/1973, bà đã cùng đại diện của 3 bên còn lại ngồi vào bàn, mỗi người ký vào 32 văn bản của Hiệp định Paris. Bà là một trong 4 Bộ trưởng Ngoại giao và là người phụ nữ duy nhất đặt bút ký văn kiện lịch sử này. Khoảnh khắc đó, bà trào nước mắt vì vinh dự to lớn và xúc động nhớ tới xương máu của những anh hùng, đồng bào, đồng chí đã hy sinh.

1000022410.jpg

[Bà Nguyễn Thị Bình trả lời phỏng vấn phóng viên nước ngoài trước khi vào Hội trường Kléber ký Hiệp định Paris ngày 27/1/1973. (Ảnh tư liệu)]

1000022407.webp

[Bộ trưởng Ngoại giao Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam Nguyễn Thị Bình ký văn kiện Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam, ngày 27/1/1973, tại Trung tâm Hội nghị Quốc tế ở thủ đô Paris (Pháp) (Ảnh: Văn Lượng - TTXVN).]

1000022408.jpg

[Nguyễn Thị Bình ký Định ước của Hội nghị quốc tế về Việt Nam, ngày 2.3.1973. Ảnh: TTXVN.]

Sau Hội nghị Paris, bà tiếp tục làm Bộ trưởng Ngoại giao Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và là Bí thư Ban cán sự CP 72, lãnh đạo đấu tranh chống địch vi phạm Hiệp định và quản lý hơn 20 sứ quán ở nước ngoài.

III. Quá trình công tác trong lĩnh vực giáo dục và bộ máy Nhà nước (1976 - 2002)

1. Dấu ấn với ngành giáo dục

Sau khi đất nước thống nhất, từ tháng 7/1976 đến tháng 6/1987, bà được bổ nhiệm làm Bộ trưởng Bộ Giáo dục và là Ủy viên Trung ương Đảng khóa 5. Việc chuyển sang làm giáo dục được bà coi là một chữ duyên, xuất phát từ kinh nghiệm từng đi dạy kèm môn Toán ở Sài Gòn trước đây. Dù tự nhận không phải là giáo sư, bà đã điều hành bộ máy giáo dục suốt 11 năm với tình yêu thương con người sâu sắc.

Dưới sự tham mưu của bà, Nhà nước đã có nhiều chính sách ghi nhận vị thế nhà giáo như cải tiến thang lương, tính thâm niên, tôn vinh Ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11 và các danh hiệu Nhà giáo Nhân dân, Nhà giáo Ưu tú. Bà thẳng thắn tự phê bình rằng một số khuyết điểm của ngành giáo dục có từ thời bà là do trình độ có hạn và sự chỉ đạo chưa đầy đủ chứ không phải do không muốn làm tốt.

1000022412.jpg

[Bức ảnh về Bà Nguyễn Thị Bình ở “Hội nghị quốc tế về Giáo dục tại Hungary năm 1983”. Ảnh: HPDF cung cấp]

2. Đảm nhiệm các trọng trách quốc gia

Từ tháng 7/1987 đến tháng 8/1992, bà giữ chức Phó Trưởng ban Đối ngoại Trung ương Đảng, kiêm Chủ nhiệm Uỷ ban Đối ngoại của Quốc hội. Bà là một trong những đại biểu Quốc hội có thời gian đương nhiệm lâu nhất, kéo dài 26 năm từ khóa VI đến khóa X.

Năm 1992, ở tuổi 65, bà dự định về nghỉ hưu, nhưng Tổng Bí thư Đỗ Mười đã đến thăm và đề nghị bà giữ chức Phó Chủ tịch nước. Ban đầu bà từ chối vì đã quá tuổi nghỉ hưu, nhưng sau khi suy nghĩ vì đất nước, bà đồng ý nhận nhiệm vụ.

Từ tháng 9/1992 đến tháng 8/2002, bà làm Phó Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam liên tục trong hai nhiệm kỳ. Bà đã chủ trì thắng lợi Hội nghị cấp cao Cộng đồng các nước nói tiếng Pháp lần thứ 7 tại Hà Nội, đồng thời luôn quan tâm đến tiến bộ của phụ nữ, nhấn mạnh phụ nữ cần có trình độ văn hóa, nghề nghiệp thực sự và tinh thần tiến thủ để hài hòa giữa công việc và vai trò làm mẹ.

IV. Các hoạt động cống hiến sau khi nghỉ hưu

Tháng 9/2002, bà kết thúc nhiệm kỳ, nghỉ hưu và vinh dự nhận Huân chương Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, bà vẫn canh cánh nỗi lo về sự tụt hậu của giáo dục và các vấn đề văn hóa xã hội.

Từ năm 2003 đến nay, bà đảm nhiệm chức Chủ tịch Quỹ Hòa bình và phát triển Việt Nam. Bà còn tham gia làm Chủ tịch Quỹ Bảo trợ trẻ em Việt Nam, Chủ tịch Quỹ Giải thưởng Kovaleskaia, Chủ tịch Quỹ Văn hóa Phan Châu Trinh, và là Chủ tịch danh dự Hội Nạn nhân chất độc da cam Việt Nam ra mắt đầu năm 2004. Bà trực tiếp chủ trì đề tài nghiên cứu về cải cách giáo dục và tổ chức nhiều hội thảo vì sự nghiệp đào tạo con người.

Năm 2012, đúng dịp sinh nhật 85 tuổi, bà xuất bản cuốn hồi ký Gia đình, bạn bè và đất nước. Trong sách, khi kể lại câu hỏi của lãnh tụ Palestine Yasser Arafat và bạn bè quốc tế về lý do Việt Nam chiến thắng, bà đúc kết 3 lý do: có lãnh tụ xuất chúng Hồ Chí Minh, có sự đoàn kết dân tộc mạnh mẽ, và có hậu phương lớn vững chắc là miền Bắc.

Mới đây, cuốn hồi ký Tấm lòng với đất nước của bà đã được phát hành, hiện đang được trưng bày từ ngày 15/8 đến 15/9/2025 tại Thư viện phường Hoàn Kiếm, Hà Nội.

Qua cuộc đời bà, người đời nhận thấy một vẻ đẹp kết hợp giữa sự giản dị và sang trọng, khiêm nhường mà uyên bác, mềm mại nhưng vô cùng kiên định, và đánh giá bà là người Việt Nam có nhiều bạn bè nhất trên thế giới.

Video / Phóng sự

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn