Người hoạt động cách mạng trước năm 1945

SỰ NGHIỆP TRUNG TRINH CỦA VỊ TIẾN SĨ YÊU NƯỚC: QUYỀN CHỦ TỊCH NƯỚC HUỲNH THÚC KHÁNG

Trong lịch sử cách mạng Việt Nam, Cụ Huỳnh Thúc Kháng (hiệu Mẫn Hiên) là một hiện tượng đặc biệt – tượng đài sống về tinh thần yêu nước, chí khí kiên trung và biểu tượng cao đẹp của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Đỗ Tiến sĩ năm 1904 nhưng từ bỏ con đường làm quan cho thực dân, Cụ cùng Phan Châu Trinh, Trần Quý Cáp xướng xuất Phong trào Duy Tân, chịu 13 năm tù đày tàn khốc ở Côn Đảo và lập ra tờ báo Tiếng Dân để đấu tranh đòi tự do cho dân tộc. Năm 1946, nhận lời mời của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Cụ ra gánh vác trọng trách Bộ trưởng Bộ Nội vụ và Quyền Chủ tịch nước trong thời điểm vận mệnh dân tộc "ngàn cân treo sợi tóc". Với lời dặn bất hủ của Bác Hồ: "Dĩ bất biến, ứng vạn biến", Cụ đã kiên cường chèo lái con thuyền cách mạng giữ vững nền độc lập non trẻ trước muôn vàn thù trong giặc ngoài.

Đà Nẵng18/08/2026Xã Tân Tiến (Đoàn xã Tân Tiến)4 lượt xem0 lượt chia sẻ
SỰ NGHIỆP TRUNG TRINH CỦA VỊ TIẾN SĨ YÊU NƯỚC: QUYỀN CHỦ TỊCH NƯỚC HUỲNH THÚC KHÁNG

1. Đỗ Tiến sĩ, từ bỏ nhung lụa đi làm cách mạng và 13 năm tù Côn Đảo (1876 – 1921)

Huỳnh Thúc Kháng sinh ra trong một gia đình nhà nho nghèo giàu truyền thống học hành tại vùng núi Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam. Nổi tiếng thông minh kiệt xuất từ nhỏ, năm 1904 (khoa Giáp Thìn), Cụ đỗ Đệ ba giáp Tiến sĩ cập thứ (thường gọi là Tiến sĩ Huỳnh Thúc Kháng).

Thế nhưng, chứng kiến cảnh nước mất nhà tan, nhân dân lầm than dưới gót giày xâm lược của thực dân Pháp, vị tân Tiến sĩ ấy đã kiên quyết từ chối ra làm quan cho triều đình phong kiến tay sai. Cụ bắt tay cùng các nhà chí sĩ Phan Châu Trinh, Trần Quý Cáp khởi xướng Phong trào Duy Tân (1906–1908) với khẩu hiệu: "Khai dân trí,振 dân khí, hậu dân sinh" (mở mang trí tuệ nhân dân, nâng cao khí tiết nhân dân, phát triển đời sống nhân dân).

Năm 1908, phong trào chống thuế ở Trung Kỳ bùng nổ. Thực dân Pháp hoảng sợ đàn áp dã man. Cụ Huỳnh Thúc Kháng bị giặc bắt, khép án tử hình nhưng sau giảm xuống chung thân đày ra địa ngục trần gian Côn Đảo.

Suốt 13 năm (1908 – 1921) bị giam cầm trong xiềng xích, tra tấn gông cùm nơi ngục tối Côn Đảo, Cụ vẫn giữ vững khí tiết ngút trời. Cụ biến tù ngục thành trường học, cùng các đồng chí học tập, làm thơ, giữ trọn tấm lòng trung trinh với Tổ quốc.

2. Ngòi bút thép trên tờ báo Tiếng Dân giữa lòng Huế (1927 – 1943)

Sau khi được trả tự do năm 1921, thực dân Pháp tìm mọi cách mua chuộc Cụ bằng chức tước và tiền tài nhưng đều bị Cụ thẳng thừng từ chối.

Năm 1927, tại cố đô Huế, Cụ Huỳnh Thúc Kháng đã đứng ra sáng lập tờ báo Tiếng Dân – tờ báo tiếng Việt đầu tiên ở Trung Kỳ. Suốt 16 năm liên tục (1927 – 1943) cho đến khi bị chính quyền thực dân đóng cửa, dưới sự chủ trì của Cụ Huỳnh, báo Tiếng Dân đã trở thành vũ khí sắc bén lên án chính sách bóc lột của thực dân, truyền bá tư tưởng yêu nước, đòi tự do dân chủ cho đồng bào.

Ngòi bút của Cụ đanh thép, vô úy nhưng đầy trí tuệ, khiến giới cầm quyền Pháp vừa ghen tức vừa phải kiêng nể gọi Cụ bằng cái tên: "Hại Cụ" (người già nguy hiểm).

3. Trao gánh giang sơn và mệnh lệnh "Dĩ bất biến, ứng vạn biến" (Năm 1946)

Sau Cách mạng Tháng Tám 1945 thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết thư trân trọng mời Cụ Huỳnh Thúc Kháng ra Hà Nội tham gia Chính phủ. Khi gặp Bác Hồ, Cụ Huỳnh bày tỏ sự cảm phục sâu sắc trước lý tưởng cách mạng và nhân cách của Bác. Cụ xúc động nhận lời đảm nhiệm chức vụ Bộ trưởng Bộ Nội vụ.

Cuối tháng 5 năm 1946, bối cảnh đất nước lâm vào tình thế muôn vàn hiểm nghèo: 20 vạn quân Tưởng Giới Thạch ở phía Bắc, quân Pháp lăm le trở lại ở phía Nam, các phe phái phản động nội địa ra sức chống phá. Giữa lúc ấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh phải sang Pháp dự Hội nghị Fontainebleau để đàm phán hòa bình.

Trước khi lên máy bay sang Pháp, Bác Hồ đã tin cậy trao lại toàn bộ gánh nặng chèo lái đất nước cho Cụ Huỳnh Thúc Kháng với tư cách Quyền Chủ tịch nước. Bác nắm chặt tay Cụ Huỳnh dặn dò câu nói lịch sử:

"Tôi vì việc nước phải đi xa ít lâu. Ở nhà mọi việc nhờ Cụ gánh vác. Mong Cụ dốc lòng giúp đỡ. Cụ hãy ghi nhớ lấy 6 chữ: DĨ BẤT BIẾN, ỨNG VẠN BIẾN."

Trong suốt 5 tháng (từ 31/5/1946 đến 20/10/1946) đảm nhiệm vai trò Quyền Chủ tịch nước, Cụ Huỳnh Thúc Kháng đã thể hiện bản lĩnh kiên cường và trí tuệ mẫn tuệ. Cụ đã lãnh đạo Chính phủ đập tan vụ án phản động Quốc dân đảng ở số 7 Phố Ô Ô (Hà Nội), giữ vững trật tự an ninh, kiên quyết giữ vững mục tiêu "Độc lập và Thống nhất" (cái Bất biến) trong khi linh hoạt đối phó với muôn vạn thủ đoạn gian hèn của kẻ thù (cái Ứng vạn biến).

Khi Bác Hồ trở về nước, Bác đã ôm chặt Cụ Huỳnh và xúc động phát biểu trước quốc dân: "Trong lúc tôi đi vắng, nhờ sự chèo lái tài tình của Cụ Huỳnh và sự đoàn kết của quốc dân, con thuyền Việt Nam đã vượt qua muôn vàn sóng gió!"

4. Chuyến công tác cuối cùng và tấm lòng sắt son gửi lại miền Trung (1946 – 1947)

Cuối năm 1946, Toàn quốc kháng chiến bùng nổ. Cụ Huỳnh Thúc Kháng được Chính phủ cử làm Chủ tịch Hội Liên Việt, trực tiếp vào kiểm tra, chỉ đạo kháng chiến tại các tỉnh Nam Trung Bộ (Khu 5).

Dù tuổi đã ngoài 70, sức khỏe yếu dần do nhiều năm tù đày, Cụ vẫn chống gậy mây lội suối băng rừng, đến tận các làng xã Quảng Ngãi, Bình Định để kêu gọi nhân dân đoàn kết kháng chiến, ủng hộ bộ đội.

Tháng 4 năm 1947, khi đang làm việc tại xã Hành Phong, huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi, Cụ Huỳnh lâm bệnh nặng. Biết mình không qua khỏi, trên giường bệnh, Cụ đã viết bức thư cuối cùng gửi Chủ tịch Hồ Chí Minh và toàn thể đồng bào:

"Tôi sống vì nước, chết cũng vì nước. Cả đời tôi chỉ có một lòng trung thành với Tổ quốc và nhân dân... Mong đồng bào hãy một lòng tin tưởng tuyệt đối vào Cụ Hồ Chí Minh – người lãnh đạo tối cao của dân tộc – để đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn!"

Ngày 21 tháng 4 năm 1947, Cụ Huỳnh Thúc Kháng trút hơi thở cuối cùng, hưởng thọ 71 tuổi. Theo nguyện vọng của Cụ và nhân dân, Cụ được an táng ngay trên đỉnh núi Thiên Ấn (tỉnh Quảng Ngãi) – nơi con sông Trà Khúc trôi êm đềm ra biển lớn.

Ý NGHĨA DI SẢN BẤT TỬ

Cụ Huỳnh Thúc Kháng là tấm gương sáng ngời của thế hệ Người hoạt động cách mạng trước năm 1945. Cuộc đời Cụ là sự kết tinh hoàn hảo giữa Trí tuệ – Khí tiết – Tấm lòng vì dân vì nước.

Cụ đã chứng minh rằng: Khi lòng yêu nước chân chính gặp gỡ lý tưởng cách mạng đúng đắn, mọi ranh giới về xuất thân hay thế hệ đều tan biến, chỉ còn lại sự phụng sự vô điều kiện cho nền độc lập dân tộc. Tên của Cụ mãi mãi gắn liền với trang sử vàng của thời đại Hồ Chí Minh, là ngọn hải đăng soi sáng tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc cho mọi thế hệ Việt Nam.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn