Người hoạt động cách mạng trước năm 1945

Sự nghiệp văn hóa, văn nghệ của Phan Đăng Lưu

Lào Cai22/08/2026Xã Ngọc Đường (Đoàn xã Ngọc Đường)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Phan Đăng Lưu sinh ra trong một gia đình có truyền thống Nho học, ông nội và phụ thân là trí thức nông dân, thông thạo Nho, y, lý, số; ông ngoại đỗ cử nhân nhưng không ra làm quan, cụ là tác giả bài thơ “Vua con” nổi tiếng ở vùng quê Yên Thành. Ở tuổi trưởng thành, Phan Đăng Lưu thông thạo chữ Hán, tiếng Pháp, được đọc các tác phẩm của Lương Khải Siêu, Khang Hữu Vi, Tôn Dật Tiên, Môngtétxkiơ, Vônte, Rútxô, thơ văn Phan Bội Châu và các chí sĩ yêu nước khác.

Khi bị giam cầm ở nhà tù Buôn Mê Thuột, Phan Đăng Lưu tiếp tục sáng tác thơ ca để động viên tinh thần đồng chí của mình và chia sẻ với tù thường phạm vốn là những người lương thiện trước đó.

Phan Đăng Lưu còn đưa các tác phẩm văn học, nhất là thơ và tiểu phẩm, vào các số báo, trang báo, vừa bám sát tính thời sự, vừa đảm bảo tính dí dỏm, châm biếm sâu cay. Có 17 tiểu phẩm như vậy đăng trên báo Sông Hương tục bản, chủ yếu ở mục “Chiếu diện” của tác giả Nghị Toét đả kích trực diện bọn bán dân hại nước trong các cuộc tranh cử.
Nhà thơ Tố Hữu kể lại câu chuyện được Phan Đăng Lưu khích lệ, gợi ý để sau đó dần trở thành nhà thơ cách mạng: “Một hôm anh hỏi tôi: - Cậu biết làm thơ không ? Tôi đáp: - Niêm luật Đường thi, ca dao, lục bát thì tôi nắm được nhưng không biết thơ có hay không. - Vậy thì tốt rồi, anh Lưu nói - Báo ta (tức báo “Dân”) hơi “khô”. Cậu biết làm thơ hãy làm những bài thơ về những người lao động nghèo khổ. Nghèo khổ không phải là số phận, mà là do đế quốc, phong kiến bóc lột, là do sưu thuế nặng nề. Những cảnh ăn mày, đầy tớ, trẻ mồ côi,… có rất nhiều điều cần viết để thức tỉnh nhân dân. Cậu cố gắng viết để đăng được mỗi số một bài hoặc vài số một bài, có thể nhờ đó dân thích đọc báo ta hơn. Nhưng phải chú ý: dễ hiểu, dễ nhớ và đừng dài dòng”.

Giữa năm 1939, khi chính quyền thực dân đàn áp báo chí, đóng cửa hàng chục tờ báo yêu nước, Phan Đăng Lưu tập trung nhiều hơn trí lực cho nghiên cứu văn học. Với bút danh Phi Bằng, ông sưu tầm, biên soạn cuốn Thơ văn các nhà chí sĩ Việt Nam, sách được cụ Huỳnh Thúc Kháng viết lời tựa (in trên báo Tiếng dân năm 1939). 22 chí sĩ được lựa chọn, giới thiệu trong sách đều là những nhà yêu nước, anh dũng chống xâm lược Pháp. Ông còn viết loạt bài “Văn thơ của các chí sĩ Việt Nam”; góp nhiều ý kiến đối với đồng chí Hải Triều trong cuộc tranh luận “Văn học vị nghệ thuật” hay “Văn học vị nhân sinh” lúc đó.

Có một tác phẩm văn học đặc biệt “Thư viết từ khám tử hình” mà tác giả là Phan Đăng Lưu. Bức thư này ông gửi cho con trai yêu quý trước giờ ly biệt vĩnh viễn. Bức thư viết bằng tiếng Pháp, một thứ ngôn ngữ Pháp chuẩn mực, điêu luyện, nội dung đa nghĩa, nhiều ẩn ý do phải vượt qua song sắt khám tử hình, vượt qua cả sự kiểm duyệt khắt khe của kẻ thù.

Phan Đăng Lưu đã sống đẹp đẽ, chiến đấu, hy sinh kiên cường, dũng cảm, lẫm liệt. Ông đã và sẽ mãi mãi bất tử bởi lòng yêu nước nồng nàn, chí căm thù giặc sâu sắc; tư duy, phương pháp công tác vững vàng, tài tình; bản lĩnh và nghệ thuật lãnh đạo sắc sảo, mẫn tiệp. Ông là một trí thức cách mạng lớn, tiêu biểu; một nhà báo, nhà văn tài ba, chuyên nghiệp; một nhà lãnh đạo xuất chúng. Ông đã để lại tấm gương sáng ngời về nhiều mặt: tri thức, tài năng, bản lĩnh, đạo đức, phong cách, đức khiêm tốn, nghĩa xả thân và nhiều bài học quý giá, dài lâu. Ông đã góp phần xứng đáng xây dựng nền móng ban đầu cho sự lãnh đạo của Đảng đối với bộ máy tổ chức và đảng viên của mình, với nhân dân, với cách mạng, nổi bật nhất là trên trận địa tư tưởng, báo chí, xuất bản, văn hóa, văn nghệ

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn