Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

SỰ RA ĐỜI CỦA BAN NGHIÊN CỨU KHÔNG QUÂN (1949 - 1952)

Ban nghiên cứu Không quân được thành lập ngày 9-3-1949 theo quyết định của Võ Nguyên Giáp và chỉ đạo của Hồ Chí Minh. Nhiệm vụ của ban là nghiên cứu kỹ thuật hàng không, sửa chữa và sử dụng các máy bay được tiếp nhận sau Cách mạng Tháng Tám 1945, đồng thời đào tạo cán bộ bay, khí tượng và kỹ thuật. Dù hoạt động trong điều kiện kháng chiến rất khó khăn, đơn vị đã đặt nền móng cho sự hình thành và phát triển của lực lượng không quân Việt Nam sau này.

Lai Châu07/03/2026Ban Biên tập tổng hợp4 lượt xem0 lượt chia sẻ

Viết lại lịch sử ra đời, phát triển và hoạt động của Ban nghiên cứu Không quân thật trung thực và đầy đủ là một việc khó khăn, nhưng rất cần thiết, để góp tư liệu cho việc biên soạn lịch sử xây dựng các ngành Hàng không, Không quân, Pháo binh trong quân đội.

Ban nghiên cứu Không quân thành lập ngày 9-3-1949 theo quyết định do Đại tướng Võ Nguyên Giáp ký, tuy ý định xây dựng các binh chủng Không quân, Hải quân đã hình thành từ lâu. Ngày nay, sau một thời gian dài, những hồ sơ, tài liệu lưu trữ đã bị thất lạc do những năm tháng chiến tranh. Dựa vào những tư liệu còn lại và sự cung cấp tư liệu của các đồng chí có liên quan hiện còn, đang công tác hoặc nghỉ hưu như:

1. Đồng chí đại tá Phan Phác, nguyên Cục trưởng Cục Quân huấn, và Phó Tổng tham mưu trưởng QĐND Việt Nam hồi đó, chuyển ngành làm Cục trưởng Bộ Nông Lâm đã nghỉ hưu.

2. Đồng chí Hà Đổng, nguyên Trưởng ban NCKQ, sau chuyển ngành làm Vụ trưởng Bộ Nông Lâm đã nghỉ hưu.

3. Đồng chí Trần Hiếu Tâm, nguyên Chính trị viên Ban nghiên cứu Không quân, Thiếu tướng Phó tư lệnh Quân khu Thủ đô, đã về nghỉ hưu.

4. Đồng chí Đoàn Mạnh Nghi, nguyên Trưởng tiểu ban chính trị, đại tá Cục trưởng Cục vận chuyển Tổng cục Hàng không dân dụng, đã nghỉ hưu.

5. Đồng chí Lê Thạch Liên, nguyên Trưởng tiểu ban khí tượng, sau chuyển sang Nha khí tượng Việt Nam, đã nghỉ hưu.

6. Đồng chí Nguyễn Tâm Trinh, nguyên đại đội trưởng học sinh, đại tá Phó tham mưu trưởng Quân chủng Phòng không, đã nghỉ hưu, cùng các đồng chí khác, chúng tôi thu thập và mạnh dạn biên soạn lịch sử giai đoạn ban đầu xây dựng ngành Hàng không Việt Nam .

I - QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH TIẾN TỚI THÀNH LẬP BAN NGHIÊN CỨU KHÔNG QUÂN.

1. Sau Cách mạng tháng Tám 1945, vua Bảo Đại được mời ra Hà Nội nhận chức cố vấn cho Chính phủ ta, Bảo Đại có hai chiếc máy bay riêng, 1 chiếc Tiger Moth 2 tầng cánh, 2 chỗ ngồi, thân bọc vải, 1 động cơ do hãng DC Havilland ở Anh chế tạo, máy bay khá an toàn, tốc độ chậm, có thể hạ cánh trên sân bay ngắn và hẹp, thậm chí cả trên đồng cỏ. Trong chiến tranh thế giới thứ II không quân Anh dùng nó để tập lái, quan sát liên tục. Một chiếc Morane Sunier do Pháp chế tạo, thân kim loại, 1 động cơ, 1 tầng cánh, 2 chỗ ngồi. Đây là loại máy bay thể thao, bay nhanh hơn chiếc Tiger Moth, có thể nhào lộn được.

Cuối năm 1945 Bảo Đại đề nghị Chính phủ ta đưa 2 máy bay này ra Hà Nội, vì ông ta cũng không đủ điều kiện dùng riêng các máy bay đó. Cấp lãnh đạo của ta chấp nhận đề nghị này của Bảo Đại với ý định là kết hợp yêu cầu của ông ta để thành lập Câu lạc bộ Hàng không cho thanh niên ta quen dần với việc sử dụng máy bay, điều này sẽ có lợi cho việc xây dựng ngành Hàng không nước ta như kinh nghiệm nhiều nước trên thế giới. Đồng chí Tạ Quang Bửu, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng chỉ đạo việc tổ chức đưa ra và giao cho đồng chí Phan Phác lúc này là Cục trưởng Cục Quân huấn, đồng chí là một trong những người Việt Nam hiếm hoi lúc đó biết chút ít về lái máy bay khi đồng chí ở trong quân đội Pháp, tổ chức thực hiện. Hai máy bay được tháo cánh, bí mật được chở bằng tàu hỏa ra Bắc và tạm cất ở sân bay Kim Đái (Tông) tỉnh Sơn Tây. Lúc này các sân bay Bạnh Mai, Gia Lâm đều còn do quân đội Tàu đóng giữ. Hai máy bay đến Sơn Tây an toàn vào tháng 1-1946, có thợ bảo dưỡng gồm bác Đống, tổ trưởng, bác Nguyễn Đình Mai (đã mất tại Soi Đúng, Tuyên Quang khi máy bay Pháp ném bom), và các bác Khánh, Nghệ, Hội, Chất. Khi chuẩn bị để lắp lại thì quân Pháp gây hấn ở Nam Bộ, tiếp đến sau Hiệp định Sơ bộ (6-3-1946), thực dân Pháp lộ rõ âm mưu trở lại xâm lược nước ta, Bảo Đại tìm cách chuồn ra nước ngoài. Đất nước ta chuyển vào trạng thái chuẩn bị chiến tranh, tiếp đến ngày 19-12-1946, cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ.

Trong những ngày đầu kháng chiến, có ý kiến dùng chiếc Morane bay ném đạn cối vào quân Pháp đang bị vây hãm ở thị xã Nam Định. Bác Hồ và cấp trên không đồng ý và chỉ thị phải bí mật đem cất giấu 2 máy bay trên lên an toàn khu Việt Bắc. Tháng 1-1947, đồng chí Lê Thạch Liên theo lệnh Cục Quân huấn tổ chức đưa 2 máy bay đường sông lên Tuyên Quang, để ở sân bay Bình Ca, nhưng tháng 3- 1947 sân bay bị máy bay Pháp đánh phá, máy bay ta bị hỏng nhẹ. Để đề phòng quân Pháp tấn công lên Việt Bắc, ta đã tháo rời 2 máy bay chuyển xuống thuyền chở ngược lên Chiêm Hóa. Công việc di chuyển được bảo đảm an toàn tuy cực kỳ vất vả khó khăn. Đến địa điểm, máy bay được cất giấu trong lán, tại vùng Soi Đúng (còn gọi là Soi Trinh) Tả ngạn sông Gâm, phía Nam huyện lỵ Chiêm Hóa 10km. Bãi cát trồng ngô trên Soi được sửa sang làm bãi hạ cất cánh, kích thước 400m x 25m. Xăng dầu được chuyển bằng lăn từng thùng fuy một về từ các nơi xa như Cao Bằng v.v...

Tháng 9-1948, Cục Quân huấn cử một hàng binh người Nhật tên là Lan đến chuẩn bị bay thử nhưng không bay được vì anh ta chỉ là lính bắn súng trên máy bay chứ không phải là người lái.

Các máy bay được bảo dưỡng, bảo quản sửa chữa, chờ lệnh chuẩn bị phục vụ cho việc học tập và sử dụng.

Sau những thắng lợi quan trọng của quân dân ta trên chiến trường trong năm 1948, bước sang năm 1949, cục diện cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của dân tộc phát triển mạnh. Trên thế giới hệ thống xã hội chủ nghĩa ngày càng mở rộng, quân giải phóng Trung Quốc đang tiến xuống Hoa Nam vào các vùng sát biên giới Việt Trung, tạo cho ta những thuận lợi và thời cơ mới.

Theo chỉ thị của Bác và Bộ Chính trị Trung ương Đảng, Bộ tổng Tư lệnh quân đội ta ra sức nghiên cứu và tìm tòi mọi biện pháp để từng bước chuyển từ chủ động chiến dịch sang chủ động về chiến lược. Hưởng ứng khẩu hiệu "Tích cực cầm cự, chuẩn bị chuyển mạnh sang tổng phản công", trong lực lượng vũ trang cả 3 thứ quân đều phát triển cả về số lượng và chất lượng. Trong bộ đội chủ lực, ngoài bộ binh ra, đã bắt đầu quan tâm xây dựng các binh chủng kỹ thuật, Bộ tổng Tham mưu kiến nghị với Tổng Tư lệnh tình hình tổ chức ban đầu của không quân, thủy quân và một số binh chủng khác.

Đồng chí Phan Phác nhớ sau lần đi theo đồng chí Võ Nguyên Giáp và đồng chí Hoàng Văn Thái đến báo cáo xin chỉ thị của Bác về việc thành lập đơn vị ban đầu của không quân, gọi là "Đội huấn luyện Không quân". Sau khi nghe báo cáo, Bác hỏi cặn kẽ tình hình và chỉ thị đại ý như sau: Ta đã làm cái gì thì phải làm cho được, phải kiểm tra cơ sở thực tế các mặt xem có thực hiện được không. Còn hướng đi về mặt chiến lược để đón trước thời cơ là như thế.

Bác dặn bước đầu chỉ nên là ban nghiên cứu thôi, chỉ tổ chức một lớp gọi là lớp không quân hay lớp phòng không, chưa phải là trường. Ban nghiên cứu có lớp để phối hợp tham gia nghiên cứu, vừa học vừa làm.

Chấp hành chỉ thị của Bác, ngày 9-3-1949, Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp ký quyết định thành lập Ban nghiên cứu Không quân. Để giữ bí mật, Ban lấy tên là Nông trường thí nghiệm, địa điểm đóng quân ở Ngòi Liễm, xã Hữu Lộc, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang, tả ngạn sông Lô, cạnh Nha nghiên cứu kỹ thuật quân giới ở thôn Đĩa.

Nhiệm vụ của Ban nghiên cứu Không quân: Tìm hiểu hoạt động của không quân Pháp, tìm cách phòng chống lại chúng, chuẩn bị cơ sở vật chất, tài liệu, huấn luyện đào tạo cán bộ, hình thành dần từng bước các điều kiện để tiếp thu, đón thời cơ triển khai hoạt động. Phương châm là từ nhỏ đến lớn, cụ thể, thiết thực, bí mật, phù hợp với tình hình.

Đồng chí Hà Đổng, lúc này là cán bộ cơ quan Bộ Quốc phòng giúp việc đồng chí Tạ Quang Bửu, được giao nhiệm vụ theo dõi số máy bay này trước đây, tuy chưa biết gì nhiều về không quân nhưng có trình độ văn hóa và ham mê nghiên cứu, được bổ nhiệm làm trưởng ban, đồng chí Đoàn Mạnh Nghi, cán bộ Bộ Tổng tham mưu là nhân viên khí tượng cũ, được giao phụ trách công tác đảng công tác chính trị. Đầu năm 1950, đồng chí Trần Hiếu Tâm công tác ở bộ đội Hà Giang, đang dự lớp bổ túc của Bộ, trước đây là học sinh Trường kỹ thuật có học về sửa chữa máy bay được giao nhiệm vụ làm chính trị viên của Ban.

Trong số người ban đầu có mặt, đặc biệt có đồng chí Nguyễn Đức Việt, (hàng binh người Đức trong hàng ngũ quân đội Pháp đã theo ta từ ngày đầu kháng chiến ở Trung Bộ), vốn là phi công lái máy bay liên lạc, đang công tác tại Nha nghiên cứu kỹ thuật quân giới được về. Đồng chí rất nhiệt tình, có kiến thức khoa học kỹ thuật không quân đã đóng góp nhiều cho Ban, và được kết nạp vào Đảng cộng sản Đông Dương. Hòa bình lập lại, đồng chí trở về Cộng hòa dân chủ Đức công tác và đã mất sau một vụ tai nạn.

Để hoàn thành nhiệm vụ nghiên cứu, Ban được tổ chức như sau: Ban chỉ huy: Đồng chí Hà Đổng, Trưởng ban.

Đồng chí Trần Hiếu Tâm, chính trị viên.

Tiểu ban hành chính: Đồng chí Phan Văn Diên, Trưởng tiểu ban.

Tiểu ban chính trị: Đồng chí Đoàn Mạnh Nghi.

Tiểu ban nghiên cứu Sân bay: Đồng chí Lê Văn Nho.

Tiểu ban nghiên cứu phòng không: Đồng chí Nguyễn Hải Hạc.

Tiểu ban khí tượng: Đồng chí Lê Thạch Liên.

Xưởng cơ khí: Đồng chí Đàm Hải, Lê Minh Tâm.

Tổ bảo dưỡng máy bay: Đồng chí Nguyễn Văn Đống.

Đội vệ binh: Đồng chí Ma Văn Thưởng.

Đội huấn luyện: Đồng chí Nguyễn Tâm Trinh (đội trưởng); Đồng chí Trần Quốc Thái (đội phó) .

Lúc ban đầu Ban trực thuộc Bộ Quốc phòng, một thời gian sau trực thuộc Bộ Tổng tham mưu.

Về Đảng, lúc mới thành lập, đảng viên ít nên một phân chi thuộc chi bộ Bộ Tổng tham mưu, có Ban cán sự do đồng chí Nghi làm Bí thư. Sau khi số lượng đảng viên được tăng lên, được tổ chức thành 1 chi bộ, chi ủy gồm đồng chí Tâm (bí thư), đồng chí Nghi, đồng chí Trình. Chi bộ này nằm trong Liên chi Quốc phòng Tổng tư lệnh gọi tắt là Liên chi TQP thuộc Bộ Quốc phòng sau thuộc Ban chấp hành Đảng bộ Bộ Tổng tham mưu, tổng số gồm 18 đồng chí đảng viên, đại bộ phận cán bộ, công nhân viên và học viên là quần chúng cảm tình Đảng. Chi bộ có đồng chí Việt là đảng viên nước ngoài.

II - HOẠT ĐỘNG CỦA BAN NGHIÊN CỨU KHÔNG QUÂN

Trong không khí sôi sục của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, mọi thành viên của Ban nghiên cứu Không quân đều hăng hái nhiệt tình góp sức vào việc xây dựng cơ quan, xây dựng đơn vị.

1. Sau khi thành lập, mối quan tâm chung là kiểm tra xem xét lại thực trạng chất lượng của 2 chiếc máy bay, cái vốn quí đầu tiên. Đồng chí Hà Đổng cùng đồng chí Việt lên Chiêm Hóa để cùng đồng chí Liên và tổ bảo dưỡng kiểm tra kỹ thuật và tổ chức bay thử. Chiếc Tiger Moth được chuẩn bị khẩn trương để bay. Đồng chí Việt lái, bác Đống thợ máy cùng bay. Máy bay cất cánh tốt, sau lượn một vòng, máy bay vẫn hoạt động tốt, nhưng khi quay về chuẩn bị hạ cánh thì bộ phận điều khiển có sự cố máy bay đã chủ động hạ tiếp đất lệch dốc theo bờ sông Gâm để bảo đảm an toàn. Sau khi hạ cánh xuống, người an toàn, máy bay bị hỏng vài bộ phận, không bảo đảm tiếp tục cất cánh được nửa. Lần đầu tiên, chiếc máy bay mang cờ Việt Nam bay trên vùng trời Tổ quốc, đánh dấu một sự kiện lịch sử của dân tộc ta. Ngày 14-9-1949, sau lần bay thử, hai máy bay đã được cất giấu và bảo dưỡng chuẩn bị phục vụ cho các lớp huấn luyện sau đó.

2. Thôn Ngòi Liễm thuộc xã Hữu Lộc, huyện Sơn Duơng, tả ngạn sông Gâm được chọn làm địa điểm đóng quân. Ở đây gần đường bộ, đường thuỷ, tương đối kín đáo, thuận tiện cho việc liên lạc với trên và bãi Chiêm Hoá, lại gần Nha NCKT quân giới, và Ban nghiên cứu Thuỷ quân, tiện việc hiệp đồng giúp nhau nghiên cứu. Ban đã xây dựng lấy chỗ ăn, ở, học tập, giảng đuờng, kho, xưởng cho cơ quan, trường học và xưởng sửa chữa cơ khí. Xưởng cơ khí được trang bị một số máy động lực, máy cắt gọt, rèn, gò, hàn, sản xuất gia công cơ khí, phục vụ mô hình học tập, sửa chữa máy móc và phục vụ cho sinh hoạt. Đặc biệt là đã cử 1 đồng chí tốt nghiệp khoá hoa tiêu 1 đến các nơi máy bay Pháp bị rơi, thu nhặt các linh kiện từ các động cơ và xác của máy bay về làm học cụ giảng dạy, nghiên cứu và chế tạo ra các máy ngắm máy bay cho súng trường, súng máy, cung cấp cho một số súng máy trực chiến của bộ binh chiến đấu.

3. Để chuẩn bị cho công tác nghiên cứu và cơ sở của ngành chuyên môn, Ban đã lựa chọn và đào tạo 2 khoá học.

- Khoá 1 có 28 nguời gồm 1 trung đội, 3 tiểu đội học viên ngành lái 9 hoa tiêu) trong thời gian 4 tháng.

- Khoá 2 gồm 87 nguời 3 trung đội, mỗi trung đội 1 lớp:

Lớp hoa tiêu 2: 28 người
Lớp Khí tượng: 31 người
Lớp thợ máy: 28 người
Thời gian học là 6 tháng.

Đội ngũ cán bộ phụ trách lấy trong số cán bô tốt nghiệp khóa 1 . Đội ngũ giáo viên gồm số cán bộ cũ của Ban và một số nhân viên chuyên môn hàng không chọn trong số hàng binh quân đội Pháp là người Đức và Nhật.

Tuyệt đại bộ phận giáo trình giảng dạy là tiếng Việt nhưng có những phần phải bằng tiếng Pháp, như ở khóa hoa tiêu 1, do đồng chí Nguyễn Đức Việt (người Đức) giảng vì đồng chí chưa thạo tiếng Việt. Việc giảng dạy đường lối kháng chiến và các tài liệu chính trị có lúc được các cán bộ của Bộ xuống giới thiệu. Việc học lý thuyết có chú ý kết hợp với thực hành. Học xong lý thuyết, học viên được hành quân về Chiêm Hóa để thực hành mở máy, kiểm tra và điều khiển lăn trên đường băng cỏ.

4. Tiến hành thu thập các tài liệu sử dụng của cơ quan Bộ, đi khai thác ở các nơi, từ trong vùng địch chiếm đóng, nghiên cứu tìm hiểu hàng không nói chung và lực lượng không quân Pháp sử dụng trên chiến trường Đông Dương. Nghiên cứu bắn máy bay địch bằng các loại súng máy, súng trường bộ binh, đã làm giá thép 2 trung liên, chế tạo ra máy ngắm mục tiêu trên không.

Cùng trong thời gian này, trước yêu cầu của việc tiêu diệt máy bay Pháp, mở hai lớp tập huấn cho các đơn vị về dùng súng bộ binh các loại bắn máy bay. Ban đã tự tổ chức đội bắn thực nghiệm bằng súng máy và máy ngắm cải tiến để rút kinh nghiệm, đã đi phục kích dọc bờ sông Lô và trên đoạn đường bộ từ Đoan Hùngđến Tuyên Quang.

Tháng 5 năm 1951 theo lệnh của Bộ Tổng tham mưu, Ban đã cử 20 đồng chí có trình độ bổ sung cho đơn vị sơn pháo 75mm đưa sang Thủy Khẩu (Biên giới Quảng Tây - Cao Bằng) để nhận và chuyển loại pháo cao xạ 37mm phòng không, thành lập đơn vị pháo cao xạ đầu tiên, bảo vệ vùng trời cửa ngõ ra vào giữa ta và Trung Quốc. Đơn vị lấy tên là đại đội 612. Thành tích đầu tiên của đại đội là bắn rơi chiếc máy bay phóng pháo F8F Bear Cat (Gấu mèo) của Pháp xâm phạm vùng trời Thủy Khẩu, chấp hành đúng lời căn dặn của Bác Hồ trước đó 3 tháng khi Bác đến thăm đại đội. Cuối năm 1951, khi mở chiến dịch Hòa Bình, trên có ý định sử dụng bí mật, bất ngờ đại đội cao xạ này tham gia chiến dịch, nhưng vì hoạt động máy bay của địch hạn chế, lại sợ lộ nên Bộ hoãn sử dụng vào chiến dịch.

Ban đã tổ chức những tổ đi nghiên cứu một số khu vực có thể hạ cất cánh được, nhưng do điều kiện bị hạn chế nên không triển khai được .

Suốt cả thời kỳ xây dựng, Bộ Quốc phòng rất coi trọng đến kiểm tra, chỉ thị, cử cán bộ tác chiến xuống giúp đỡ, lên lớp về những nội dung cần thiết. Đồng chí Hoàng Văn Thái, Tổng tham mưu trưởng QĐNDVN, ngoài nhiều lần kiểm tra thăm hỏi nơi đóng quân Ngòi Liễm, đã trực tiếp dự lễ bế mạc khóa hoa tiêu 1.

Trong suốt thời kỳ xây dựng và phát triển, Ban nghiên cứu Không quân hết sức coi trọng công tác giáo dục chính trị, xây dựng tư tưởng, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng về mọi mặt. Vừa xây dựng, vừa chiến đấu, trong những lần giặc Pháp lấn chiếm đánh ra các vùng tự do Đoan Hùng, Tuyên Quang, dọc sông Lô, cán bộ,chiến sĩ, công nhân viên đã thực hiện phân sơ tán kho xưởng, cơ quan bố trí chiến đấu, đánh chặn quân địch, cùng đồng bào địa phương bắn máy bay địch, bảo vệ cơ quan, bảo vệ làng bản. Một nhiệm vụ rất quan trọng nửa là mặc dầu xa cơ quan Bộ, cán bộ và chiến sĩ, công nhân viên luôn luôn nêu cao tinh thần cách mạng, phát huy tinh thần tự lực cánh sinh, đẩy mạnh tăng gia sản xuất tự túc lương thực, thực phẩm, cải thiện đời sống, có thời kỳ 2, 3 tháng thiếu sự cung cấp của trên vẫn giữ vững được cuộc sống tập thể tuy thiếu thốn nhưng đầy ấm cúng. Nhiều đồng chí đã có gia đình cùng chung sống và công tác .

III - CHUYỂN HƯỚNG NHIỆM VỤ, SỰ RA ĐỜI CỦA BAN NGHIÊN CỨU SÂN BAY.

Trong những năm 1950 - 1951, Ban nghiên cứu Không quân đã tạo được đội ngũ cán bộ nhân viên nghiệp vụ chuyên môn hàng không. Cuộc kháng chiến của nhân dân ta đang trên đà phát triển thắng lợi. Cách mạng Trung Quốc thành công (1-10-1949). Nước ta đặt quan hệ ngoại giao với Trung Quốc và Liên Xô (18-1-1950). Biên giới phía Bắc nước ta đã khai thông và nối liền với hậu phương lớn các nước xã hội chủ nghĩa. Nước ta được sự chi viện nhiều mặt của các nước anh em.

Đảng ta và Bác Hồ đã đề ra những chủ trương chiến lược mở rộng lực lượng, chuyển từ thế chủ động chiến dịch sang thế chủ động chiến lược, sẵn sàng tranh thủ thời cơ để phát triển thắng lợi cục diện của cuộc kháng chiến. Cả 3 thứ quân đều được phát triển. Với sự giúp đỡ của các nước anh em, một số trường lớp đặt trong nước được chuyển sang biên giới Trung Quốc.

Trước tình hình mới, việc duy trì và mở rộng công tác của Ban nghiên cứu Không quân cũng có những khó khăn và hạn chế mới. Sau nhiều lần xem xét cân nhắc và tham khảo ý kiến của cố vấn Trung Quốc, Bộ quyết định tạm ngừng việc xây dựng và phát triển cơ sở nghiên cứu không quân trong nước, chuyển một số cán bộ sang nước bạn để tiếp tục học tập, thu hẹp cơ sở nghiên cứu trong nước lại, chuyển đại bộ phận cán bộ, công nhân viên, học viên sang xây dựng lực lượng phòng không, lực lượng pháo binh và các đơn vị mới. Đồng chí Tâm Trinh dẫn 33 đồng chí sang Trung Quốc để học lái. Khi đến Nam Ninh do nhu cầu xây dựng lực lượng phòng không, đoàn đồng chí Nguyễn Chí Thanh, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị trực tiếp giao nhiệm vụ, sáp nhập cùng đoàn cán bộ đi học pháo cao xạ 37mm ở Thẩm Dương trở thành một bộ phận của lực lượng tiền thân của Quân chủng Phòng không anh hùng. Một số lớn cán bộ khác được chuyển sang Đại đoàn công pháo 351 xây dựng pháo binh và công binh. Các đồng chí phụ trách của Ban về Bộ nhận nhiệm vụ mới.

Trước tình hình mới, vào giai đoạn cuối của cuộc trường kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, Đảng ta đã tạm thời ngừng xây dựng Ban nghiên cứu Không quân, Thủy quân, tập trung vào việc xây dựng các lực lượng mới như pháo binh, phòng không. Các cán bộ, chiến sĩ, công nhân viên của Ban nghiên cứu Không quân được phân phối về các lực lượng mới góp phần xây dựng cho các lực lượng đó, đặc biệt là lực lượng phòng không của 3 thứ quân. Nhiều đồng chí đã góp phần đánh thắng trong chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ và trên các chiến trường của cả nước.

Cơ sở vật chất kỹ thuật của Ban kể cả 2 máy bay được chuyển giao và cất giấu.

Chiến dịch Điện Biên Phủ kết thúc thắng lợi. Hiệp định Giơnevơ được ký kết. Quân đội ta đã cử các đồng chí biết ít nhiều về hàng không và các đồng chí ở Ban nghiên cứu Không quân trước đây tiếp quản các sân bay và tiếp thu cơ sở hạ tầng của lực lượng không quân quân đội Pháp và bù nhìn. Trước nhu cầu cấp bách lúc đó ngày 3-3-1955 Bộ Quốc phòng ra quyết định thành lập Ban nghiên cứu sân bay, tiền thân của Quân chủng Không quân và Tổng cục Hàng không dân dụng ngày nay của nhân dân và quân đội ta.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn