Bài viết

Sự ra đời và phát triển của Tổng đội TNXP Giải phóng miền Nam

Hà Tĩnh13/04/2026Ban Biên tập tổng hợp3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Tổng đội TNXP Giải phóng miền Nam chính thức được thành lập trong bối cảnh cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước bước vào giai đoạn quyết liệt, khi Mỹ đẩy mạnh chiến lược “Chiến tranh Đặc biệt” và bắt đầu đổ quân ồ ạt vào miền Nam. Việc hình thành một lực lượng thanh niên chuyên biệt, có tổ chức chặt chẽ, là yêu cầu cấp thiết để đảm bảo thông suốt hậu cần chiến lược và hỗ trợ các đơn vị chủ lực.

Ngày 20/4/1965, đơn vị TNXP Giải phóng miền Nam đầu tiên mang phiên hiệu C100 được thành lập tại căn cứ Trung ương Cục miền Nam, Tân Biên, tỉnh Tây Ninh, với 108 cán bộ, đội viên. Đồng chí Trần Lê Dũng (Sáu Dũng), Thường vụ Trung ương Đoàn Thanh niên Nhân dân cách mạng, giữ vai trò Chính trị viên; đồng chí Nguyễn Đức Toàn (Tư Dũng), Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đoàn, làm Tổng đội trưởng. Đến cuối năm 1965, Trung ương Cục chỉ đạo thành lập Đảng ủy Tổng đội trực thuộc, do đồng chí Sáu Dũng làm Bí thư, củng cố vai trò lãnh đạo chính trị và chiến lược cho lực lượng mới này.

Sau C100, mười một đơn vị TNXP khác lần lượt ra đời tại các địa phương, khẳng định sự lớn mạnh nhanh chóng của lực lượng:

  • Ngày 2/9/1965, Đội “Hiệp Hòa anh dũng” của Long An.

  • Ngày 23/11/1965, Đội “Hoàng Lệ Kha” của Tây Ninh.

  • Ngày 1/12/1965, Đội 112 “Phú Lợi căm thù” của Bình Dương.

  • Ngày 12/12/1965, Đội 1265 “Bình Giã chiến thắng” của Biên Hòa.

  • Ngày 20/12/1965, Đội “Nguyễn Văn Tư” của Bến Tre.

  • Đầu năm 1966, Mỹ Tho thành lập đội 2163 “Ấp Bắc”.

  • Ngày 23/9/1966, Cà Mau thành lập Đội 239 “Nguyễn Việt Khái”.

  • Ngày 3/2/1967, Đội “Tây Đô quyết thắng” của Cần Thơ.

  • Tháng 11/1967, Đội 1167 “Đông Xuân quyết thắng” của Trà Vinh.

  • Ngày 20/4/1968, C204 Ấp Bắc 2 của Mỹ Tho.

  • Ngày 26/3/1970, C263 Hiệp Hòa anh dũng của Long An

  • Sự ra đời liên tiếp này cho thấy sức hấp dẫn của lý tưởng giải phóng và vai trò ngày càng mở rộng của thanh niên trong cuộc chiến.

    Khác biệt cốt lõi so với TNXP miền Bắc (thường được huy động có thời hạn và chủ yếu bảo đảm giao thông tuyến đường Trường Sơn), TNXP Giải phóng miền Nam tập trung không thời hạn, hoạt động khắp các chiến trường hiểm nguy, từ xã phường đến tiền tuyến. Nhiệm vụ của họ vô cùng đa dạng và nguy hiểm, bao gồm vận chuyển vũ khí, lương thực qua các tuyến hành lang bị địch kiểm soát gắt gao, tải thương, đào hầm hào, và đặc biệt là trực tiếp tham gia chiến đấu bên cạnh các đơn vị Quân Giải phóng để bảo vệ các tuyến tiếp vận.

    Từ năm 1966 đến 1968, trước tính chất và quy mô chiến tranh ngày càng ác liệt, với sự ra đời của các sư đoàn chủ lực như Sư đoàn 5, Sư đoàn 7, Sư đoàn 9, Tổng đội TNXP Giải phóng miền Nam đã thành lập 3 Liên đội TNXP mang phiên hiệu tương ứng (Liên đội 5, 7, 9). Đây là quyết định chiến lược nhằm tạo ra các đơn vị hỗ trợ cơ động, có khả năng tác chiến, phục vụ trực tiếp các sư đoàn trong những trận đánh lớn, cam go. Các Liên đội này đóng vai trò là “cánh tay nối dài” không thể thiếu, giúp các sư đoàn chủ lực duy trì sức chiến đấu liên tục.

    Đến giai đoạn 1969-1972, TNXP Giải phóng miền Nam cùng các Đoàn Hậu cần quân đội gánh vác việc vận chuyển hàng chiến lược và bảo vệ các tuyến hành lang trọng điểm như Tây Ninh – Dầu Tiếng (Liên đội 9) và Dầu Tiếng – Chơn Thành – Bến Cát – Củ Chi (Liên đội 7). Để tăng cường hỏa lực, Tổng đội còn thành lập Tiểu đoàn tăng cường D601 (600 người) làm nhiệm vụ tại chiến trường Campuchia. Tiểu đoàn này đã trực tiếp chiến đấu và lập công, bắn rơi 2 trực thăng, bắn cháy 4 xe bọc thép, trước khi chuyển thành D579 và sáp nhập vào lực lượng Công an vũ trang.

    Từ năm 1972 đến cuối năm 1973, lực lượng TNXP được giao nhiệm vụ quan trọng là tiếp đón hơn 3.500 cán bộ, chiến sĩ được địch trao trả theo Hiệp định Paris tại Tây Ninh. Sau đó, toàn lực lượng đã tham gia trọn vẹn Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử và có mặt trong đội hình tiếp quản Sài Gòn ngày 30/4/1975, hoàn thành xuất sắc sứ mệnh lịch sử của mình.

    Với tinh thần “Năm xung phong” – xung phong chiến đấu, xung phong công tác, xung phong lao động, xung phong rèn luyện, xung phong giữ gìn bí mật – TNXP Giải phóng miền Nam đã thể hiện sự anh dũng, kiên cường cùng bộ đội trên các chiến trường.

    Liên đội 9 là một trong những đơn vị lập nhiều chiến công nhất, đã sát cánh cùng Sư đoàn 9 Quân Giải phóng trong 5 năm (1965-1969), phục vụ 401 trận đánh. Sự phục vụ này đòi hỏi sự bền bỉ phi thường trong điều kiện thiếu thốn: vượt suối, băng rừng, tránh bom B-52 để đảm bảo vũ khí và lương thực đến tiền tuyến. Đặc biệt, trong trận Gian-xơn-Xi-ty tháng 2/1967, Liên đội 9 đã giúp Sư đoàn 9 bẻ gãy trận càn quy mô lớn nhất của Mỹ, góp phần làm nên thắng lợi quyết định. Trong 9 năm hoạt động, Liên đội đã vận chuyển hàng chục tấn vũ khí, 10.000 tấn gạo (tương đương với hàng triệu lượt gùi, vác) và tải thương 6.415 cáng. Mỗi cáng thương là một mạng sống được cứu, thể hiện sự hy sinh quên mình của các đội viên TNXP giữa lằn ranh sinh tử. Liên đội đã được Sư đoàn 9 tặng cờ 14 chữ vàng: “Đoàn kết khiêm tốn, phục vụ chí tình, sống anh dũng, chết vinh quang”.

    Quá trình phục vụ, chiến đấu, lao động và rèn luyện đã xây dựng nên truyền thống cốt lõi của lực lượng, đúc kết trong khẩu hiệu: PHỤC VỤ QUÊN MÌNH, ANH DŨNG XUNG PHONG, LẬP CÔNG VẺ VANG.

    Với những thành tích xuất sắc, Lực lượng TNXP Giải phóng miền Nam đã được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân (2009). Vinh dự này là sự ghi nhận to lớn đối với những cống hiến thầm lặng và sự hy sinh của hàng vạn thanh niên. Tập thể và cá nhân TNXP cũng được tặng thưởng nhiều danh hiệu cao quý khác, bao gồm 01 Huân chương Thành đồng hạng Nhất (danh hiệu cao quý dành cho tập thể có thành tích đặc biệt xuất sắc), 03 Huân chương Thành đồng hạng Ba, 01 Huân chương Quân công hạng Ba cùng hàng trăm Huân chương, Huy chương các loại, và danh hiệu Anh hùng LLVTND cho TNXP Đoàn Thị Liên[1] năm 2000.

    Bạn cũng đang lưu giữ
    một câu chuyện lịch sử?

    Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

    Gửi câu chuyện của bạn