Khác

Sức mạnh chiến tranh nhân dân Việt Nam trong Chiến dịch Điện Biên Phủ (1)

Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945 - 1954), đó là cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, cuộc chiến tranh chính nghĩa mà sức mạnh của chiến tranh nhân dân Việt Nam được phát huy cao độ; trong Chiến dịch Điện Biên Phủ - 1954, điểm hội tụ, nét đặc sắc chính là sự động viên, tổ chức lực lượng toàn dân đánh giặc, lấy lực lượng vũ trang nhân dân làm nòng cốt, dựa vào sức mạnh toàn dân, phát động, tổ chức toàn dân tiến hành chiến tranh.

Phú Thọ11/03/2026CLB trẻ (Đoàn Phúc Yên)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Một là, đường lối chiến tranh nhân dân đúng đắn, sáng tạo

Đường lối chiến tranh nhân dân do Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định và lãnh đạo phù hợp với truyền thống đấu tranh bất khuất, kiên cường trong lịch sử mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc; đáp ứng nguyện vọng của nhân dân Việt Nam, tổ chức cả nước thành một mặt trận, tạo nên thế trận “thiên la địa võng”, cả nước đánh giặc, mỗi người dân là một chiến sĩ, mỗi xóm làng là một pháo đài; giặc đi đến đâu cũng bị đánh, đánh giặc bằng mọi vũ khí có trong tay. Trong Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến (19-12-1946), Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc. Ai có súng, dùng súng. Ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc”[1].

Trong đường lối chiến tranh nhân dân, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định phương châm “vừa kháng chiến, vừa kiến quốc” xây dựng tiềm lực mọi mặt; lực lượng tham gia kháng chiến gồm: Quân đội, dân quân du kích, công an, nhân dân trực tiếp chiến đấu bảo vệ xóm làng, đường phố; thanh niên xung phong, dân công, các đội trừ gian, diệt ác, các đội công tác, binh vận, các tổ chức, mọi người tùy theo lứa tuổi, sức lực mà đóng góp vào kháng chiến, đi học cũng là kháng chiến, sản xuất cũng là kháng chiến... Để động viên được lực lượng toàn dân đánh giặc, toàn dân kháng chiến, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tập hợp các lực lượng vào Mặt trận dân tộc thống nhất, hợp thành khối đoàn kết dân tộc vững chắc; một lực lượng chính trị hùng hậu của Đảng; tạo nên sức mạnh toàn diện góp phần làm nên Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ 1954.

Sức mạnh chiến tranh nhân dân Việt Nam trong Chiến dịch Điện Biên Phủ

Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn Đại tướng Võ Nguyên Giáp: “... trận này quan trọng, phải đánh cho thắng. Chắc thắng mới đánh, không chắc thắng không đánh”. Ảnh tư liệu

Hai là, xây dựng lực lượng vũ trang ba thứ quân vững mạnh, rộng khắp, làm nòng cốt cho toàn dân đánh giặc

Thấu triệt những nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin về đấu tranh vũ trang và tổ chức quân đội kiểu mới của giai cấp vô sản, nên trong suốt cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945 - 1954), Đảng luôn coi trọng xây dựng lực lượng vũ trang ba thứ quân: Bộ đội chủ lực, Bộ đội địa phương, Dân quân du kích (nay là Dân quân tự vệ) vững mạnh, rộng khắp, làm nòng cốt cho toàn dân đánh giặc.

Nhờ đó, chiến tranh nhân dân không ngừng phát triển trên địa bàn cả nước với phương thức tác chiến là: Kết hợp giữa chiến tranh nhân dân địa phương với chiến tranh chính quy của các đơn vị bộ đội chủ lực. Đặc biệt, bước vào Chiến cuộc Đông - Xuân 1953 - 1954, lực lượng chủ lực được tổ chức đến cấp đại đoàn và đến Chiến dịch Điện Biên Phủ phát triển khá nhanh các binh chủng pháo binh, phòng không. Với sự lớn mạnh của bộ đội chủ lực, chúng ta có điều kiện tổ chức các chiến dịch quy mô ngày càng lớn, tạo ra những “quả đấm thép” mang tính quyết định thắng lợi trên chiến trường, trong đó đỉnh cao là Chiến dịch Điện Biên Phủ.

Sau khi phân tích, đánh giá tình hình địch - ta một cách khách quan, khoa học, toàn diện, Bộ Chính trị, Trung ương Đảng và Tổng Quân ủy hạ quyết tâm “Tập trung đại bộ phận lực lượng chủ lực thiện chiến của ta lên Mặt trận Điện Biên Phủ, mở chiến dịch tiến công tiêu diệt những lực lượng tinh nhuệ nhất của địch trong tập đoàn cứ điểm mạnh nhất của chúng trên chiến trường Đông Dương”[2].

Nhiệm vụ trọng đại mà Đảng và Chính phủ đề ra cho toàn quân, toàn dân là: Tập trung lực lượng, quán triệt quyết tâm “tích cực phát huy tinh thần chiến đấu anh dũng, chịu đựng gian khổ, giành toàn thắng cho chiến dịch”. Trong trận quyết chiến chiến lược này, chúng ta đã tập trung lực lượng bộ đội chủ lực tham gia, gồm: 3 đại đoàn bộ binh (308, 312 và 316), Đại đoàn công pháo 351, 1 trung đoàn thuộc Đại đoàn 304 và một số đơn vị binh chủng; lực lượng phục vụ chiến dịch rất lớn, gồm: 6.280 ô tô vận tải, 21.000 xe đạp thồ, 251.000 dân công...

Thực tế diễn biến Chiến dịch Điện Biên Phủ cho thấy, quân và dân ta đã phấn đấu thực hiện nhiệm vụ chiến đấu và phục vụ chiến đấu với một quyết tâm rất cao, sự bền bỉ vượt qua khó khăn, gian khổ rất lớn và tinh thần chiến đấu dũng cảm, ngoan cường để giành chiến thắng. Ý chí quyết chiến, quyết thắng cao độ của bộ đội được thể hiện rõ trong việc hoàn thành một khối lượng lớn công việc ở giai đoạn chuẩn bị chiến dịch và tiếp đó là trong quá trình thực hành chiến dịch. Đặc biệt, khi ta thay đổi phương châm tác chiến, từ “đánh nhanh, giải quyết nhanh” sang “đánh chắc, tiến chắc” với một loạt vấn đề đặt ra về mặt tư tưởng phải giải quyết cũng như trong suốt 56 ngày đêm chiến đấu khó khăn gian khổ, ác liệt, nhưng bộ đội ta đã thể hiện ý chí quyết chiến, quyết thắng với sức mạnh phi thường và cuối cùng đã giành thắng lợi trọn vẹn vào ngày 7-5-1954.

Ba là, phát huy được sức mạnh của lực lượng và thế trận chiến tranh nhân dân Việt Nam

Để chuẩn bị cho Chiến dịch Điện Biên Phủ, bằng quyết tâm và lòng dũng cảm, bằng sự gắn bó khăng khít, keo sơn, hàng vạn dân công, thanh niên xung phong, bộ đội công binh đã ngày đêm lao động khẩn trương nên chỉ trong hơn ba tháng (từ tháng 12-1953 đến đầu tháng 3-1954), ta đã hoàn thành việc tu sửa và mở các Đường số 41, Đường số 13, đường từ Tuần Giáo lên Điện Biên Phủ, là những trục đường chính của tuyến vận tải cơ giới, với tổng chiều dài khoảng 300km. Kết quả đó còn là sự gắn bó, đồng cam, cộng khổ, cùng nhau chịu đựng mọi khó khăn, gian khổ, hy sinh trong những ngày đêm “khoét núi, ngủ hầm, mưa dầm, cơm vắt” của bộ đội và nhân dân, nhất là nhân dân các dân tộc Tây Bắc.

Phát huy sức mạnh “thế trận lòng dân” trong thế trận chiến tranh nhân dân còn là sự gắn kết và quy tụ sức mạnh của hậu phương với sức mạnh của tiền tuyến. Phát huy tiềm năng và thế mạnh của hậu phương tại chỗ, trên khắp miền Tây Bắc, đồng bào các dân tộc Thái, Mường, Mông, Dao, Hà Nhì... thi đua phục vụ Chiến dịch. Nhiều gia đình đã vét những hạt thóc giống cuối cùng, hoặc nhịn bữa, ăn sắn, ăn khoai để dành gạo phục vụ cho Chiến dịch. Nhiều phụ nữ nghe theo tiếng gọi của Đảng chẳng quản gian khổ, hiểm nguy, nô nức lên đường, mở đường, gánh gạo, cấp dưỡng, tải thương...

Đặc biệt, ở Lai Châu, nơi trực tiếp diễn ra chiến dịch, tuy chiến trận trận gây nhiều khó khăn, cộng với những khó khăn thường nhật của một tỉnh miền núi cao, xa xôi hẻo lánh, nhưng nhân dân nơi đây vẫn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ hậu phương tại chỗ của mình. Nhân dân đã cung cấp cho chiến dịch 2.666 tấn gạo, 226 tấn thịt, 112 tấn rau xanh, 16.972 người đi dân công với 517.210 ngày công; 348 ngựa thồ; 38 thuyền mảng; 25.070 cây gỗ chống lầy. Có địa phương như huyện Tuần Giáo đã huy động tới 45% tổng số lúa thu hoạch để cung cấp cho Chiến dịch. Bằng tinh thần đoàn kết đó, đồng bào các dân tộc Tây Bắc, Việt Bắc, Liên khu 3, Liên khu 4... đã đóng góp cho Chiến dịch 25.056 tấn lương thực, 907 tấn thịt và hàng nghìn tấn thực phẩm khác. Chỉ tính riêng số vật phẩm chuyển được ra mặt trận là hơn 2 vạn tấn, trong đó có 14.950 tấn gạo, 266 tấn muối, 62,7 tấn đường, 577 tấn thịt và 565 tấn thức ăn khô.

Trong toàn Chiến dịch Điện Biên Phủ, nhân dân ta đã “đóng góp 25.560 tấn gạo, 226 tấn muối, 1.909 tấn thực phẩm, 26.453 lượt dân công, 20.991 xe đạp thồ, 1.800 mảng nứa, 756 xe thô sơ, 914 con ngựa thồ và 3.130 chiếc thuyền”[3]. Những con số này thật to lớn đối với một đất nước còn nghèo nàn, lạc hậu, đang phải tiến hành một cuộc kháng chiến, cứu nước quyết liệt. Nhưng, ý nghĩa của nó còn lớn hơn, bởi đó là công sức đóng góp của các tầng lớp nhân dân trên hầu khắp đất nước, là tinh thần “cả nước một lòng, toàn dân đánh giặc”.

Đánh giá về sức mạnh của lòng dân, Đại tướng Võ Nguyên Giáp khẳng định: “Chưa bao giờ trong suốt mấy năm kháng chiến, dân ta đã góp nhiều công sức như trong Đông Xuân 1953 - 1954 để chi viện cho quân đội đánh giặc… Bọn đế quốc… không bao giờ đánh giá được sức mạnh của cả một dân tộc, sức mạnh của nhân dân. Sức mạnh đó có thể khắc phục được tất cả mọi khó khăn, chiến thắng mọi kẻ địch”2. Chính Nava cũng phải thừa nhận: “Người ta chỉ còn thừa nhận nỗ lực phi thường đó (của nhân dân phục vụ chiến dịch) và khâm phục hiệu quả mà Bộ Chỉ huy và Chính phủ (Việt Nam) đã biết cách tạo được”3.

Sức mạnh chiến tranh nhân dân Việt Nam trong Chiến dịch Điện Biên Phủ

Nhân dân các thị trấn ở Thanh Hóa tiến đưa các đoàn dân công xe đạp thồ lên đường phục vụ tiền tuyến năm 1954. Ảnh tư liệu/nhandan.vn

Cùng với những đóng góp tích cực của nhân dân cả nước về lương thực, thực phẩm cho tiền tuyến, lực lượng dân công các địa phương được huy động đủ đáp ứng yêu cầu cho Chiến dịch. Liên khu 3 tổ chức mỗi đoàn từ 300 đến 500 người. Tỉnh Hoà Bình huy động 5.000 dân công làm đường. Huyện Mỹ Đức, tỉnh Hà Đông (nay thuộc thành phố Hà Nội) mới giải phóng đã có 800 người tình nguyện đi dân công phục vụ Chiến dịch Điện Biên Phủ; huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình huy động đội xe thồ 150 chiếc làm nhiệm vụ vận chuyển lương thực. Trong vùng địch hậu, tỉnh Kiến An (nay thuộc thành phố Hải Phòng) đóng góp 230.294 ngày công. Trong vùng tạm chiếm của các tỉnh Bắc Bộ, đồng bào đã chuyển ra vùng tự do hơn 20 vạn tấn thóc và 7,5 triệu ngày công đi dân công[4].

Tính chung trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, ngoài 16 đại đội ô tô vận tải của quân đội, các phương tiện thô sơ các địa phương là lực lượng hết sức quan trọng và hiệu quả vận chuyển vật chất cho Chiến dịch (có tới hơn 2 vạn xe đạp thồ). Ngoài việc tham gia vận tải gạo, đạn cho chiến trường, lực lượng dân công còn tích cực tham gia vận chuyển thương binh ra hậu cứ để cứu chữa, trực tiếp vào tận chiến hào để phục vụ chiến đấu[5].

Nhà báo Giuyn Roa, Đại tá Quân đội Pháp viết đánh bại tướng Nava là: “... những chiếc xe đạp Pơgiô thồ 200 - 300kg hàng, do những dân công ăn không no, ngủ trên những tấm ni lon trải ngay trên mặt đất. Tướng Nava bị đánh bại bởi trí thông minh và quyết tâm chiến thắng của đối phương”[6].

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn