Bài viết

Sức mạnh chính trị, tinh thần của quân và dân Việt Nam trong chiến dịch Điện Biên Phủ

Chiến thắng Điện Biên Phủ (7-5-1954) là một kỳ tích rạng rỡ của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ XX. Quân và dân Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh với nỗ lực phi thường đã làm nên một chiến thắng cực kỳ to lớn: tiêu diệt 21 tiểu đoàn quân Pháp phòng ngự trong tập đoàn cứ điểm quân sự mạnh nhất Đông Dương - một “Verdun” ở Đông Nam Á; đập tan nỗ lực xâm lược cao nhất của thực dân Pháp và can thiệp Mỹ, đưa cuộc kháng chiến kéo dài suốt 9 năm của nhân dân ta đến thắng lợi vẻ v

Vĩnh Long03/07/2026Đoàn TNCS Hồ Chí Minh xã Phú Quới (Đoàn TNCS Hồ Chí Minh xã Phú Quới)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Chiến thắng Điện Biên Phủ có trước hết là chiến thắng của sức mạnh Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh với mọi nguồn lực được huy động đến mức cao nhất, trong đó, sức mạnh chính trị, sức mạnh tinh thần của quân và dân ta đóng vài trò rất căn bản và to lớn.

Sức mạnh chính trị, sức mạnh tinh thần của quân và dân Việt Nam trong chiến thắng Điện Biên Phủ chính là sức mạnh của lòng yêu nước, ý chí quật cường, là quyết tâm bảo vệ độc lập, tự do, là khát vọng hòa bình, ấm no, hạnh phúc của dân tộc Việt Nam được huy động và tích tụ trong suốt quá trình kháng chiến trường kỳ. Quyết tâm và khát vọng đó được thể hiện tập trung trong đường lối lãnh đạo và quyết tâm chiến lược của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tuyên ngôn Độc lập do Chủ tịch Hồ Chí Minh công bố tại Ba Đình lịch sử đã phát đi một thông điệp chính trị, một quyết tâm của nhân dân Việt Nam với thế giới: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thực đã thành một nước tự do và độc lập. Toàn thể dân Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mệnh và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy”2. Trong Lời Kêu gọi toàn quốc kháng chiến, ban hành ngày 19-12-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh hiệu triệu: “Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ. Hỡi đồng bào! Chúng ta phải đứng lên!”3. Chỉ thị Toàn dân kháng chiến do Ban Thường vụ Trung ương ban hành ngày 12-12-1946 nêu cao khẩu hiệu chính trị: “Bảo toàn lãnh thổ!”, “Giữ vững chủ quyền!”, “Thà chết không trở lại đời nô lệ”4. Đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ, dựa vào sức mình là chính đã khai thác, tận dụng mọi khả năng, tiềm lực, trong đó có tiềm lực tinh thần của toàn dân vào cuộc kháng chiến.

Quyết tâm bảo vệ độc lập tự do đã được Đảng động viên đã trở thành sức mạnh vật chất để cả dân tộc phát huy truyền thống “cả nước đánh giặc”, “trăm họ cũng là binh”, đồng tâm nhất trí tiến hành cuộc kháng chiến trường kỳ, gian khổ đi đến thắng lợi. Từ chỗ tương quan lực lượng ta - địch ở thế “châu chấu đá voi”, quân và dân Việt Nam vừa đánh giặc vừa xây dựng thực lực mọi mặt, từng bước đánh bại những nỗ lực của đối phương, vươn lên giành quyền chủ động chiến lược, tạo lập và phát huy ưu thế về quân sự; ở chiều ngược lại, đối phương bị đẩy vào thế bị động, bế tắc về chiến lược và cuối cùng ngoan cố và liều lĩnh “đặt cược vào canh bạc lớn” Điện Biên Phủ.

Đến tháng 12-1953, quyết tâm bảo vệ độc lập, tự do được cụ thể hóa thành quyết tâm tiêu diệt tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ của Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đầu tháng 12-1953, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ thị cho Đại tướng Võ Nguyên Giáp: “Chiến dịch này là một chiến dịch rất quan trọng không những về quân sự mà cả về quốc tế. Vì vậy, toàn quân, toàn dân, toàn Đảng phải tập trung hoàn thành cho kỳ được”5.

Quyết tâm của Đảng và của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trở thành quyết tâm của cả dân tộc. Tiêu diệt tập đoàn cứ điểm địch Điện Biên Phủ trở thành mệnh lệnh thiêng liêng thôi thúc nhân dân cả nước cung cấp nhân, vật lực cho chiến dịch. Các lực lượng vũ trang đẩy mạnh tấn công địch trên khắp các chiến trường ở miền Đông và miền Tây Nam Bộ, ở Bình-Trị-Thiên, Nam Trung Bộ, Bắc Tây Nguyên, ở đồng bằng Bắc Bộ, Tả ngạn sông Hồng…; phong trào chiến tranh du kích, phá tề trừ gian và các cuộc đấu tranh chính trị mít tinh, biểu tình, bãi công, bãi khóa, bãi thị liên tiếp nổ ra ở vùng tạm bị chiếm và trong các đô thị. Tinh thần quyết tâm tiêu diệt tập đoàn cứ điểm của địch - “con nhím thép” khổng lồ trong lòng chảo Mường Thanh đã thúc đẩy trên 260.000 dân công với trên 14 triệu ngày công vận chuyển lương thực, thực phẩm lên Điện Biên Phủ; bạt núi, mở đường, phá bom nổ chậm để bảo đảm giao thông phục vụ chiến dịch trong điều kiện bị máy bay của Pháp đánh phá ác liệt…

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn