Khác

Sức mạnh làm nên chiến thắng

Trung tướng Nguyên Văn Phiệt xuất thân từ một dòng tộc có truyền thông văn hóa và cách mạng - dòng họ Nguyễn làng Kim Đôi, xã Kim Chân, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh; sinh ra và lớn lên tại tỉnh Hưng Yên - một vùng quê giàu truyền thống lịch sử, văn hóa. Với hơn 40 năm phục vụ trong quân ngũ, đồng chí Nguyễn Văn Phiệt trưởng thành từ người chiến sĩ rađa thành sĩ quan điều khiển tên lửa phòng không, đảm nhiệm nhiều chức vụ từ Trung đội trưởng đến Sư đoàn trưởng, Chủ nhiệm Chính trị, Phó Tư

Lai Châu05/07/2026Quân đội nhân dân (xã nậm mạ)3 lượt xem0 lượt chia sẻ
GIA ĐÌNH, QUÊ HƯƠNG CỘI NGUỒN CỦA SỨC MẠNH TINH THẦN
Tôi sinh năm 1938 trong một gia đình nông dân lao động nghèo, ở một vùng quê đồng chiêm trũng thuộc thôn Vệ Dương, xã Tân Phúc, huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên.

Trước khi nói về tuổi thơ của tôi, tôi muốn viết đôi dòng về quê hương Ân Thi tỉnh Hưng Yên - nơi tôi sinh ra và viết về dòng họ Nguyễn làng Kim Đôi (xã Kim Chân, huyện Quê Võ, tỉnh Bắc Ninh) - nguồn cội tổ tiên của tôi.

Ân Thi là huyện nằm ở giữa, phía đông của tỉnh Hưng Yên. Đây là một tỉnh trung tâm đồng bằng Bắc Bộ, phía đông nam giáp huyện Phù Cừ, phía nam giáp huyện Tiên Lữ, phía tây - tây nam giáp huyện Kim Động, phía tây bắc giáp huyện Khoái Châu, phía bắc giáp huyện Yên Mỹ và huyện Mỹ Hào có ranh giới là sông Bắc - Hưng - Hải (các huyện này đều thuộc tỉnh Hưng Yên); phía đông bắc giáp huyện Bình Giang, phía đông giáp huyện Thanh Miện của tỉnh Hải Dương, phần lớn ranh giới là sông Kẻ Sặt (một sông nhánh thuộc hệ thông sông Thái Bình). Ân Thi có 1 thị trấn huyện lỵ là thị trấn Ân Thi và 20 xã: Phù Ủng, Bãi Sậy, Bắc Sơn, Đào Dương, Tân Phúc, Văn Nhuệ, Hoàng Hoa Thám, Quang Vinh, Vân Du, Xuân Trúc, Quảng Lãng, Đặng Lễ, Cẩm Ninh, Nguyễn Trãi, Đa Lộc, Tiền Phong, Hồ Tùng Mậu, Hồng Vân, Hồng Quang, Hạ Lễ.

Ân Thi là một huyện đồng bằng thuần nông, chuyên canh lúa nước, dân trí tương đối cao, dân bản địa chủ yếu là dân tộc Kinh, tập quán thuần hậu, đa số theo đạo Phật, đạo Mẫu, số ít theo Thiên chúa giáo.

Trải qua những biến động của lịch sử mà địa giới và đơn vị hành chính của Ân Thi đã nhiều lần thay đổi. Thời cổ xưa mảnh đất này thuộc đất của Lạc Long Quân. Thời Bắc thuộc, thuộc quận Giao Chỉ, Giao Châu, Đằng Châu, v.v... Đến thời tiền Lê gọi là phủ Thái Bình. Đời vua Lý Cao Tông (1175-1210) đổi phủ Thái Bình thành Khoái Lộ. Đến đời hậu Lê, năm Quang Thuận thứ 7 (1466) đổi Khoái Lộ ra Khoái Châu; phủ Khoái Châu thuộc thừa tuyên Thiên Trường. Năm 1469 là năm đầu tiên nước nhà lập bản đồ, cũng là lúc đổi thừa tuyên ra thành trấn (tức là đạo); phủ Khoái Châu thuộc trấn Sơn Nam gồm có 5 huyện: Kim Động, Thiên Thi (Ân Thi sau này), Đông Yên, Tiên Lữ, Phù Dung (sau là Phù Cừ)1. Đến đời Minh Mệnh thứ 12 (1831), dùng cách chia để trị bỏ trấn, chia nhỏ trấn ra lập thành tỉnh; tỉnh Hưng Yên ra đời thời kỳ này. Tỉnh Hưng Yên lúc đó có hai phủ (Khoái Châu và Tiên Hưng); Thiên Thi (Ân Thi) nằm trong phủ Khoái Châu. Đến đời Minh Mệnh thứ 13 (1832) huyện Thiên Thi được đổi thành huyện Thi Hoa (có cả Phù Cừ). Đời Tự Đức thứ 8 (1855) huyện Thi Hoa tách Phù Cừ ra lấy tên là huyện Ân Thi.

Thời thuộc Pháp, từ năm 1873 tỉnh Hưng Yên còn 2 phủ, 6 huyện, dưới huyện là tổng và xã; Ân Thi vẫn thuộc phủ Khoái Châu. Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 ta bỏ tổng, xã, phủ; điều chỉnh lại địa giới huyện, xã; cả tỉnh có 8 huyện, 117 xã, trong đó huyện Ân Thi có 16 xã. Kết thúc cuộc kháng chiến chông thực dân Pháp, tỉnh Hưng Yên có 9 huyện, 115 xã, trong đó huyện Ân Thi có 21 xã.

Đế bớt đầu mối, tiện cho việc điều hành công việc, ngày 1 tháng 4 năm 1979 Hội đồng Chính phủ ra quyết định về việc hợp nhất và điều chỉnh địa giới của các huyện trong tỉnh Hải Hưng; huyện Kim Động hợp nhất với huyện Ân Thi, lấy tên là huyện Kim Thi, huyện lỵ đặt tại xã Thổ Hoàng.

Diện tích tự nhiên của huyện là 128,22km2; dân số 130.295 người (số liệu thống kê năm 2003).

Về giao thông, Ân Thi có 3 quốc lộ đi qua là quốc lộ 38, đường cao tốc Hà Nội - Hải Phòng (dự kiến hoàn thành năm 2015) và quốc lộ 39 mới (dự án). Đường quốc lộ 38 chạy theo hướng Đông Bắc - Tây Nam, từ thị trấn Kẻ Sặt huyện Bình Giang, cắt ngang huyện, qua thị trấn Ân Thi, nối với đường quốc lộ 39 ở Kim Động.

Về lịch sử văn hóa: Trước kia, dọc đường 38 địa phận xã Tân Phúc có nhiều dấu vết Thánh Gióng đánh giặc Ân là các ao nhỏ (vết chân ngựa) và các bụi tre ngà (vũ khí) liên tiếp trên cánh đồng. Là một địa phương có truyền thông hiếu học, nhân dân Ân Thi xưa kia nối tiếng thông minh. Huyện Ân Thi thời phong kiến đã có nhiều vị nổi danh khoa bảng. Trong gần 10 thế kỷ khoa cử, Ân Thi đã đóng góp 41 nhà đại khoa, đứng đầu toàn tỉnh (toàn tỉnh có 228 đại khoa). Có những làng, xã có truyền thông khoa cử lâu đời như: Thổ Hoàng có 10 đại khoa (trong đó có 1 bảng nhãn, 9 tiến sĩ), Bình Hồ - xã Quảng Lãng, Phù Vệ - xã Tân Phúc... Nhiều người đã thành đạt bằng con đường khoa cử, đỗ tiến sĩ, ra làm quan trong triều đến chức Thượng thư, Tể tướng (bộ trưởng); họ cống hiến nhiều cho dân, cho nước, được ghi nhận vào bia đá lưu giữ ở Văn Miếu (Hà Nội), về văn hóa có: Hoàng Công Chí, người Thổ Hoàng đậu tiến sĩ khoa Canh Tuất (1670), làm quan đến chức Thượng thư Bộ Công, sau đi sứ ở Yên Kinh (Bắc Kinh - Trung Quốc), về địa lý có Hoàng Đình Chính, người Thổ Hoàng đậu tiến sĩ khoa At Mùi (1775) đời Lê Cảnh Hưng, được cử đi sứ Trung Quốc. Đặc biệt là danh tướng Phạm Ngũ Lão ỏ làng Phù Ủng (Ân Thi) là một tướng tài, phò 3 đời vua nhà Trần (Nhân Tông, Anh Tông, Minh Tông).

-----------------------
1. Huyện lỵ Ân Thi: Lúc đầu ở xã Mão Cầu, rồi chuyển về Bích Chàng (1851), đến năm 1855 lại chuyển về Mão Cầu, năm 1876 chuyển về Ân Thi, nay là xã Hồng Quang.

Logged

Giangtvx

Thượng tá
*
Bài viết: 25560

Re: Sức mạnh làm nên chiến thắng« Trả lời #4 vào lúc: 09 Tháng Giêng, 2020, 09:41:04 am »

Phạm Ngũ Lão vốn là gia tướng của Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn. Trần Quốc Tuấn coi ông như người bạn, phải bày mưu làm lễ đổi họ chuyến con gái ruột là quận chúa Anh Nguyên thành con nuôi rồi gả cho Phạm Ngũ Lão. Vị tướng tài đức này đã bốn lần mang quân đi tiễu phạt quân Ai Lao quấy nhiễu, hai lần đánh thắng quân Chiêm Thành và có công lớn trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên (1285-1288), diệt nội phản. Ông là người văn võ toàn tài, trung thành, liêm khiết, được phong là Điện súy Thượng tướng quân. Khi ông mất, vua Trần cho nghỉ triều để tưởng nhớ và được thờ cùng với Trần Quốc Tuấn (Đức Thánh Trần). Nhắc đến danh tướng Phạm Ngũ Lão là nhắc đến một danh thần mà tiếng tăm được gói trong bốn chữ: văn, võ toàn tài1.

Đồng đất Ân Thi có nhiêu thuận lợi để phát triển sản xuất nông nghiệp, nhưng cũng gặp không ít khó khăn do thiên tai gây ra. Không kể 18 năm liền vỡ đê Văn Giang cuối thế kỷ trước, gây bao nỗi khổ cực cho nhân dân. Nỗi khổ cực ấy đã được thể hiện phần nào trong câu ca dao đầy hờn oán như:

"Cha đời cái đê Văn Giang
làm cho phủ Khoái cơ hàn bao năm"

Vỡ đê nước sông tràn vào, tuy có bồi đắp cho đồng ruộng lớp phù sa sông Hồng màu mỡ, nhưng lại cuốn theo tài sản, xói lở đất đai, đưa cát già đến từng vùng; nghiêm trọng hơn là mùa màng mất trắng hoàn toàn. Lụt đã thế, hạn cũng không kém "mười năm chín hạn". Có năm nắng kéo dài thì những cánh đồng lòng chảo, ao chuôm, sông ngòi cũng khô trắng hoàn toàn, nứt nẻ đến cỏ cũng khó mọc và không sống được, nói gì đến lúa, màu. Cuộc đấu tranh với thiên nhiên diễn ra liên tục, từ đó đã tôi luyện nên phẩm chất tốt đẹp cho con người Ân Thi là: cần cù, chịu khó, giàu nghị lực, thông minh, sáng tạo, yêu quê hương, đất nước.

Về thương nghiệp ở Ân Thi phát triển chậm. Chợ thì nhiều nhưng chỉ có tính chất buôn bán, trao đổi trong thôn xóm, làng xã với nhau. Cuối thế kỷ XIX Ân Thi có một số chợ lớn như: chợ Gò, chợ Thi, chợ Trương, chợ Đìa, chợ Chiền, chợ Gạo, v.v... và nơi giáp ranh có chợ Giàn, chợ Sặt... nhưng cũng chỉ tiêu thụ lúa, màu, gia súc nhỏ, gia cầm. Chợ buôn bán trâu, bò chỉ tồn tại một thời gian ở thôn Kim Đằng. Kinh doanh thương nghiệp tương đối lớn, phần nhiều nằm trong tay một số ít Hoa kiều, như cửa hàng bào chế bán thuốc bắc ở phố Ngàng, chợ Thi; cửa hàng vật liệu xây dựng (gỗ, luồng, tre, nứa, lá gồi) ở bến Lở (Duyên Yên).

Số người chuyên nghề thủ công nghiệp và thương nghiệp ở Ân Thi rất ít, chiếm tỉ lệ rất thấp so với số dân. Nguồn sống chính của người dân trong huyện chỉ trông vào nông nghiệp, chủ yếu là trồng trọt.

Ngoài cuộc sống vật chất, người dân Ân Thi còn có đời sống tinh thần phong phú. Ân Thi có nhiều danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử và danh nhân nổi tiếng. Đình, chùa ở đây xây dựng chủ yếu vào thế kỷ XVIII, XIX; cũng có một số đình chùa được xây dựng từ thời Lý, Trần, kiến trúc đẹp với những bức chạm trổ tuyệt tác, điển hình là chùa Kim Chung (còn gọi là chùa Chuông) được xây dựng từ năm 1705 đến năm 1719 đời vua Lê Dụ Tông. Đền Xá xây từ năm Minh Mạng thứ 20; đền Đằng Châu, v.v... Đến nay một số đình, đền, chùa đã được Nhà nước xếp hạng là di tích lịch sử văn hóa như: Đền thờ Phạm Ngũ Lão (xã Phù Ủng); đền thờ Thái Thượng Lão quân (xã Hồng Vân); đền Nhân Vũ (xã Nguyễn Trãi), đền thờ Đê Thích (xã cẩm Ninh). Chùa Trà Lầm là cơ sở của xứ ủy, liên tỉnh B của Tỉnh ủy Hưng Yên vào những năm 1939-1945.

Đất và người Ân Thi đã trường tồn trong lịch sử dựng nước và giữ nước của người Việt Nam, đã vật lộn với thiên nhiên khắc nghiệt. Họ đã biến những cánh đồng lau sậy thành bờ xôi, ruộng mật. Đất đai ấy thực sự có nhiều khả năng to lớn để phát triển nghề trồng trọt có tính chất đa canh. Thế nhưng dưới xã hội cũ - xã hội thực dân - nửa phong kiến - thực tế ngành trồng trọt không phát triển được; người nông dân bị áp bức bóc lột đến cùng cực. Có áp bức, tức có đấu tranh, người dân Ân Thi đã từng đứng lên chống lại kẻ thù xâm lược và chế độ phong kiến thối nát.

Cuối thế kỷ XIX, thực dân Pháp xâm lược nước ta, triều đình phong kiến nhà Nguyễn đầu hàng làm tay sai cho giặc. Lúc đầu thực dân Pháp còn đặt chế độ quân quản. Sau đó, chúng thay thế chế độ quân quản bằng bộ máy hành chính dân sự. Ở thị xã Hưng Yên có tên công sứ người Pháp cầm đầu tỉnh, được giao quyền rộng rãi, đứng đầu về quân sự và chính trị; công sứ cũng là kẻ đứng đầu về tư pháp, trực tiếp làm chánh án tòa án đệ nhất cấp (tư pháp với người Âu) và đệ nhị cấp (tư pháp với người bản xứ).

------------------
1. Tư liệu lưu trữ tại Phòng Văn hóa huyện Ân Thi.

Logged

Giangtvx

Thượng tá
*
Bài viết: 25560

Re: Sức mạnh làm nên chiến thắng« Trả lời #5 vào lúc: 09 Tháng Giêng, 2020, 09:42:16 am »

Nhằm dễ bề bóc lột và lừa bịp nhân dân, thực dân Pháp vẫn giữ và củng cố chế độ chính quyền tay sai phong kiến từ huyện, tổng đến xã. Như vậy, từ khi bị thực dân Pháp xâm lược nước ta huyện Ân Thi đã chuyển từ xã hội phong kiến thành xã hội thuộc địa nửa phong kiến. Tuy nhiên, khi có ánh sáng của Đảng soi rọi, một số người trong bộ máy chính quyền địa phương đã theo cách mạng, tiếp tục tham gia chính quyền địch, nhưng để làm bình phong cho phong trào cách mạng "Ngày làm việc quan, đêm làm việc dân", tiêu biểu như ông Lý Thiệu (Tổng Mếu) ở Ân Thi.

Từ thực tế cuộc sống, nhân dân Ân Thi đã từng đứng lên đấu tranh chống thù trong, giặc ngoài để giành quyển sống cho mình và bảo vệ quê hương, đất nước. Ngược dòng lịch sử ta thấy Ân Thi là quê hương của nhiều nhân vật lịch sử nổi tiếng trong trang sử chống ngoại xâm của dân tộc ta. Từ những năm 1255-1320 An Thi đã có đại tướng quân Phạm Ngũ Lão, người Phù Ủng, văn,võ kiêm toàn. Ông đã góp công cùng nhà Trần ba lần đánh thắng quân xâm lược Nguyên - Mông. Đến khi thực dân Pháp sang xâm lược, nhân dân Ân Thi mà chủ yếu là nông dân lao động rất hăng hái hưởng ứng tham gia các phong trào yêu nước chống Pháp ngay từ những ngày đầu của Đổng Quế, Tán Thuật, Kỳ Đồng, Đề Thám, v.v...1. Nổi bật là phong trào Bãi Sậy do anh hùng Tán Thuật lãnh đạo. Nhân dân Ân Thi có những đóng góp không nhỏ kể cả người và của, hầu hết các xã, ít hoặc nhiều đều đã tham gia2, có người đã trở thành thủ lĩnh mưu trí, tài giỏi, có công lớn trong phong trào Hãi Sậy. Điển hình như Đê đốc Khuy ở Huệ Lai, Ân Thi. Ngay thời kỳ địch dựa vào tay sai Hoàng Cao Khải khủng bố dữ dội, con gái Để đốc Khuy là Đốc Huệ đã dem quân bao vây địch ở Phù Cừ - Bình Giang, buộc chúng phải trả lại thủ cấp của thân phụ bà. Ngoài ra còn có Lãnh Tiêm (Ninh Thôn, cẩm Ninh); Đê đôc Tiêm, Tán Đức, Bùi Thị Huân (Nguyễn Trãi); Vũ Thị Hội (Phù ứng), v.v... Phong trào Bãi Sậy bị yếu dần, rồi bị dìm trong biển máu vào những năm 1889-1890, nhiều làng mạc bị triệt hạ, nhân dân bị tàn sát, tù đầy. Hầu hết đề đốc, lãnh binh bị địch giết hại. Một số đã tìm đến vối phong trào yêu nước của Đề Thám ở Yên Thê" (Bắc Giang), trong đó có cụ Gạch người thôn Tòng Củ (xã Vân Du, Ân Thi) còn được khắc tên vào bia đá ở Tân Yên - Hà Bắc (nay thuộc Bắc Giang). Một số lánh sang Lào, Thái Lan. Số còn lại thì tan tác hoặc nằm im. Mặc dù bằng những thủ đoạn tàn sát, tù đầy, hiểm độc, đê hèn đến mấy và phong trào bị tan vỡ, nhưng kẻ thù không thể dập tắt được lòng yêu nước nồng nàn, chí căm thù giặc sâu sắc của nhân dân Ân Thi. Ngày đêm họ vẫn nung nấu, thầm lặng rèn luyện ý chí đón chờ thời cơ nổi dậy.

Những xã có nhiều người tham gia phong trào là: Quang Trung, Đô Lương, Bãi Sậy, Trần Phú, Hồ Tùng Mậu, Hòa Bình, Chiến Thắng, Phan Chu Trinh, Quang Vinh, Bắc Sơn (thuộc Ân Thi).

Sang đầu thế kỷ XX phong trào kháng Pháp càng sôi nổi, rộng khắp. Điển hình là phong trào đòi thả cụ Phan Bội Châu, để tang cụ Phan Chu Trinh (1925-1926) được đông đảo học sinh, giáo viên, thanh niên Ân Thi hưởng ứng.

Nhân dân Ân Thi cần cù lao động, giàu lòng yêu quê hương, đất nước, không ngừng đấu tranh chống lại kẻ thù xâm lược và chê độ phong kiến thối nát. Truyền thống đó đã thấm sâu vào mỗi người dân địa phương. Những cuộc đấu tranh của ông cha trước đây đã góp phần giữ gìn độc lập - tự do cho dân tộc. Nhưng vì chưa có đường lối đúng đắn của giai cấp công nhân, chưa có sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, nên các phong trào đấu tranh ấy cuối cùng cũng bị thất bại. Khi có Đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo thì truyền thống yêu nước kết hợp với tinh thần cách mạng sẽ trở thành sức mạnh to lớn, là nguồn gốc và nguyên nhân của mọi thắng lợi trong phong trào cách mạng ở Ân Thi vào những giai đoạn lịch sử sau này.

Người dân quê tôi giàu lòng yêu nước, hiếu học, cần cù trong lao động, anh dũng trong chiến đấu chống kẻ thù xâm lược. Trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, đời sống nhân dân quê tôi vô cùng khó khăn do sự áp bức, bóc lột nặng nề của thực dân Pháp và chính quyền phong kiến tay sai.

Trong kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, làng Vệ Dương, xã Hoàng Hoa Thám, huyện Ân Thi cũng là một địa bàn kháng chiến quan trọng của tỉnh Hưng Yên. Vùng đất này còn là cái nôi của đội du kích Hoàng Ngân.

------------------------
1. Đổng Quế, quê ở Bình Dân, Bình Phú, Khoái Châu, là người tập hợp nghĩa quân chống Pháp đầu tiên, mở đầu cho phong trào Bãi Sậy.

- Tán Thuật (gọi tắt cả chức và tên) tên thật là Nguyễn Thiện Thuật, quê ở Xuân Dục (Mỹ Hào).

- Kỳ Đồng là một lãnh đạo phong trào yêu nước từ tỉnh Thái Bình ảnh hưởng sang phía nam Hưng Yên, trong đó có Ân Thi.

- Đề Thám, quê gốc ở Dị Chế (Tiên Lữ) vốn họ Trương, lúc bé tên Trương Văn Nghĩa, sau lớn đổi thành

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn