Sức mạnh quần chúng trong xây dựng làng chiến đấu ở Bình Định
Sức mạnh quần chúng trong xây dựng làng chiến đấu ở Bình Định
Trong những năm tháng kháng chiến chống Mỹ cứu nước, để bảo vệ quyền làm chủ và giữ vững vùng giải phóng, quân dân Bình Định không chỉ chiến đấu bằng súng đạn, mà còn bằng sức mạnh tổ chức của quần chúng. Từ miền núi đến đồng bằng, Nhân dân đã cùng nhau xây dựng làng chiến đấu, đào hầm, làm chông, phá đường, lập công sự, tạo nên thế trận Nhân dân rộng khắp. Theo tư liệu lịch sử, từ cuối năm 1960 ở miền núi và từ đầu năm 1962 ở đồng bằng, phong trào toàn dân tham gia công tác bố phòng, xây dựng làng chiến đấu được phát động mạnh mẽ. Đầu năm 1961, huyện Vĩnh Thạnh đã cắm trên 1.000.000 chông. Đến tháng 3/1963, ba huyện miền núi Vĩnh Thạnh, An Lão, Vân Canh đã cắm trên 2.468.321 chông, gài 12.994 mang cung và đào hàng ngàn hầm chông. Những làng như An Quang, An Mỹ, Vĩnh Hiệp, Kon Trú, Canh Liên trở thành các địa bàn khiến địch khiếp sợ. Mỗi hàng chông, mỗi hầm chông, mỗi công sự không chỉ là phương tiện phòng thủ, mà còn là biểu tượng của ý chí bám làng, giữ đất, không để địch dễ dàng lấn chiếm vùng giải phóng. Ở đồng bằng, các thôn giải phóng cũng nhanh chóng xây dựng hệ thống hầm trú ẩn, giao thông hào và công sự chiến đấu. Có nơi đào địa đạo như ở Đồi 10. Nhân dân các xã bắc Hoài Nhơn và bắc Phù Mỹ còn phá mất 250m đường số 1, 13.400m đường tỉnh và liên huyện, 2.033m đường sắt, góp phần ngăn chặn bước tiến quân và khả năng cơ động của địch. Từ 43 làng chiến đấu năm 1963, đến năm 1965, toàn tỉnh đã có 169 làng chiến đấu, trong đó 57 làng loại khá. Những con số ấy cho thấy phong trào xây dựng thế trận phòng thủ Nhân dân đã phát triển rộng khắp, trở thành một phần quan trọng trong cuộc đấu tranh bảo vệ vùng giải phóng. Sức mạnh của phong trào quần chúng không chỉ nằm ở hầm hào, chông mìn, mà còn ở tổ chức. Đảng bộ đã tập trung củng cố, phát động và tập hợp quần chúng vào các đoàn thể cách mạng. Ở miền núi, hội viên các hội giải phóng có hơn 60.000 người. Ở đồng bằng, từ 53 tổ giải phóng với 475 hội viên năm 1961, đến giữa năm 1965 đã tập hợp hơn 200.000 hội viên, gần một nửa số dân làm chủ. Trong đó, Hội Phụ nữ giải phóng có hơn 78.478 người, Hội Nông dân giải phóng có hơn 56.643 người, Hội Liên hiệp Thanh niên giải phóng có gần 30.000 người. Tại các xã giải phóng, đội ngũ đấu tranh chính trị và binh vận cũng được xây dựng, trong đó phụ nữ là lực lượng nòng cốt. Nhìn lại những năm tháng “hoa lửa”, câu chuyện xây dựng làng chiến đấu ở Bình Định là minh chứng sinh động cho sức mạnh của Nhân dân. Từ miền núi đến đồng bằng, từ hầm chông, giao thông hào đến các hội đoàn quần chúng, tất cả đã tạo nên thế trận lòng dân vững chắc, góp phần bảo vệ vùng giải phóng và làm nên truyền thống cách mạng kiên cường của quê hương Bình Định.



