SỨC SỐNG CỦA LỜI KÊU GỌI CHỐNG MỸ, CỨU NƯỚC NGÀY 17/7/1966 CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH TRONG SỰ NGHIỆP XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ TỔ QUỐC HIỆN NAY
Tóm tắt: Lời kêu gọi chống Mỹ, cứu nước ngày 17/7/1966 của Chủ tịch Hồ Chí Minh là văn kiện lịch sử có ý nghĩa đặc biệt, thể hiện ý chí độc lập, tự do và quyết tâm sắt đá của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Sáu mươi năm đã trôi qua, nhưng những giá trị tư tưởng và tinh thần của Lời kêu gọi vẫn còn nguyên giá trị, tiếp tục khơi dậy lòng yêu nước, ý chí tự lực, tự cường và khát vọng phát triển đất nước. Trong giai đoạn hiện nay, khi đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới, việc tiếp tục phát huy tinh thần của Lời kêu gọi không chỉ là sự tri ân đối với các thế hệ đi trước mà còn là động lực để xây dựng nước Việt Nam hùng cường, phồn vinh, hiện thực hóa mong muốn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về một đất nước "đàng hoàng hơn, to đẹp hơn".
Mở đầu
Đất nước đang bước vào kỷ nguyên vươn mình để phát triển với những quyết sách mang tính lịch sử như sắp xếp lại Giang sơn, thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, quyết tâm tinh gọn tổ chức bộ máy và hướng tới mục tiêu tăng trưởng hai con số trong những năm tiếp theo. Để có được những thành tựu như hôm nay, chúng ta không bao giờ được quên những hy sinh, mất mát và cống hiến to lớn của các thế hệ cha anh, họ đã dành trọn tuổi xuân, thậm chí cả tính mạng, vì độc lập, tự do của Tổ quốc. Chính truyền thống yêu nước, ý chí quật cường và khát vọng dân tộc được hun đúc qua cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước trở thành nguồn sức mạnh tinh thần to lớn, tiếp thêm niềm tin và động lực để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân vững bước trên con đường đã chọn, đưa đất nước hội nhập sâu rộng, tiếp tục khẳng định vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.
1. Hoàn cảnh ra đời của Lời kêu gọi chống Mỹ, cứu nước ngày 17/7/1966
Đầu năm 1965, sau thất bại của chiến lược "Chiến tranh đặc biệt", đế quốc Mỹ chuyển sang thực hiện chiến lược "Chiến tranh cục bộ", ồ ạt đưa quân viễn chinh và quân đồng minh vào miền Nam, đồng thời mở rộng chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân đối với miền Bắc nhằm khuất phục ý chí kháng chiến của nhân dân Việt Nam. Trên bình diện quốc tế, Mỹ đẩy mạnh các hoạt động ngoại giao, lợi dụng những bất đồng trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế để cô lập Việt Nam, trong khi ở trong nước tìm cách duy trì sự ủng hộ của Quốc hội và dư luận Mỹ đối với cuộc chiến tranh xâm lược.
Trong bối cảnh cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước bước vào giai đoạn đặc biệt ác liệt, ngày 17/7/1966, trên Đài Tiếng nói Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra Lời kêu gọi chống Mỹ, cứu nước, khẳng định ý chí sắt đá và quyết tâm bảo vệ độc lập, tự do của dân tộc. Người khẳng định: "Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá, song nhân dân Việt Nam quyết không sợ! Không có gì quý hơn độc lập, tự do. Đến ngày thắng lợi, nhân dân ta sẽ xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn!"[1]
Lời kêu gọi không chỉ là mệnh lệnh chiến đấu, cổ vũ toàn Đảng, toàn dân và toàn quân đoàn kết, kiên cường đánh thắng đế quốc Mỹ xâm lược, mà còn kết tinh khát vọng độc lập, hòa bình, thống nhất đất nước và niềm tin vững chắc vào thắng lợi cuối cùng của dân tộc Việt Nam. Sáu mươi năm sau, những giá trị tư tưởng và tinh thần của Lời kêu gọi vẫn giữ nguyên ý nghĩa, tiếp tục là nguồn động lực tinh thần to lớn trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
2. Những nội dung cơ bản của Lời kêu gọi chống Mỹ, cứu nước
2.1. Tư tưởng “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” - hạt nhân của Lời kêu gọi chống Mỹ, cứu nước
Lời kêu gọi chống Mỹ, cứu nước ngày 17/7/1966 của Chủ tịch Hồ Chí Minh là sự kết tinh tư tưởng, bản lĩnh và khát vọng của dân tộc Việt Nam trong cuộc đấu tranh giành độc lập, tự do. Hạt nhân tư tưởng xuyên suốt của Lời kêu gọi được cô đọng trong chân lý bất hủ: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”. Đây không chỉ là lời hiệu triệu toàn dân tộc trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước mà còn là sự khẳng định sâu sắc giá trị thiêng liêng của độc lập dân tộc và quyền tự do của mỗi con người, mỗi quốc gia.
Trong bối cảnh đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh xâm lược, đưa hàng chục vạn quân viễn chinh và quân đồng minh vào miền Nam, đồng thời tiến hành chiến tranh phá hoại bằng không quân, hải quân đối với miền Bắc nhằm khuất phục ý chí của nhân dân Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vạch trần bản chất phi nghĩa của cuộc chiến tranh xâm lược và khẳng định quyết tâm sắt đá của dân tộc ta. Người khẳng định: “Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá, song nhân dân Việt Nam quyết không sợ! Không có gì quý hơn độc lập, tự do. Đến ngày thắng lợi, nhân dân ta sẽ xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”.
Lời khẳng định ấy vừa thể hiện bản lĩnh chính trị kiên định, niềm tin son sắt vào thắng lợi cuối cùng của dân tộc, vừa phản ánh khát vọng hòa bình chân chính của nhân dân Việt Nam. Đó không phải là khát vọng hòa bình bằng sự nhân nhượng hay khuất phục trước bạo lực, mà là hòa bình trên nền tảng độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia và quyền tự quyết của nhân dân.
Ngay sau khi được công bố, Lời kêu gọi đã trở thành nguồn cổ vũ, động viên to lớn, khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự lực, tự cường và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc. Trên cả hai miền Nam - Bắc, các phong trào thi đua yêu nước phát triển mạnh mẽ; hàng triệu thanh niên tình nguyện lên đường nhập ngũ, hàng triệu cán bộ, đảng viên và nhân dân hăng hái lao động, sản xuất, chiến đấu với quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược. Sức mạnh của hậu phương lớn miền Bắc được phát huy cao độ để chi viện cho tiền tuyến lớn miền Nam, góp phần tạo nên những thắng lợi có ý nghĩa chiến lược, từng bước làm thay đổi cục diện chiến tranh và tiến tới thắng lợi hoàn toàn vào mùa Xuân năm 1975.
Có thể khẳng định, tư tưởng “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” là linh hồn của Lời kêu gọi chống Mỹ, cứu nước, đồng thời là chân lý mang giá trị trường tồn của cách mạng Việt Nam. Không chỉ soi đường cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc trong thế kỷ XX, tư tưởng ấy vẫn tiếp tục là nền tảng tinh thần, khơi dậy lòng yêu nước, ý chí tự cường và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc trong thời kỳ mới.
2.2. Từ khát vọng thống nhất đất nước đến quyết tâm xây dựng đất nước phồn vinh, hùng cường
Bên cạnh khẳng định ý chí quyết chiến, quyết thắng, Lời kêu gọi chống Mỹ, cứu nước còn thể hiện tầm nhìn chiến lược của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với tương lai dân tộc qua lời căn dặn: “Đến ngày thắng lợi, nhân dân ta sẽ xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”. Đây không chỉ là mục tiêu sau chiến tranh mà còn là định hướng xuyên suốt cho sự nghiệp xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, với sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và sự hy sinh to lớn của các thế hệ người Việt Nam, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đã đi đến thắng lợi hoàn toàn bằng Đại thắng mùa Xuân năm 1975, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, mở ra kỷ nguyên mới của dân tộc - kỷ nguyên độc lập, thống nhất và đi lên chủ nghĩa xã hội.
Sau ngày đất nước thống nhất, mặc dù phải đối mặt với hậu quả nặng nề của chiến tranh, các cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, sự bao vây, cấm vận và nhiều khó khăn trong phát triển kinh tế - xã hội, Đảng và nhân dân ta vẫn kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, từng bước đưa đất nước vượt qua thử thách và đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trong gần bốn mươi năm đổi mới. Đúng như đánh giá của cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”.
Bước vào kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc, khát vọng “xây dựng đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn” mà Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi gắm trong Lời kêu gọi năm 1966 vẫn mang nguyên giá trị thời sự. Đó tiếp tục là mục tiêu, động lực và nguồn cảm hứng để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, đẩy mạnh đổi mới sáng tạo, xây dựng nền quản trị quốc gia hiện đại, phát triển nhanh và bền vững, quyết tâm thực hiện thắng lợi các mục tiêu chiến lược đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2045, đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
3. Ý nghĩa của Lời kêu gọi chống Mỹ, cứu nước đối với sự phát triển đất nước trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc
Sáu mươi năm đã trôi qua, nhưng những giá trị tư tưởng và ý nghĩa lịch sử của Lời kêu gọi chống Mỹ, cứu nước ngày 17/7/1966 vẫn còn nguyên giá trị đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tư tưởng “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” tiếp tục là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, giữ vững chủ quyền quốc gia, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc và khơi dậy mạnh mẽ khát vọng phát triển đất nước trong thời kỳ mới.
Lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là lời hiệu triệu trong thời chiến mà còn chứa đựng tầm nhìn chiến lược đối với tương lai dân tộc. Khát vọng “Đến ngày thắng lợi, nhân dân ta sẽ xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn” đã trở thành mục tiêu xuyên suốt trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng và phát triển đất nước. Thực tiễn gần bốn mươi năm đổi mới đã khẳng định tính đúng đắn của đường lối lãnh đạo của Đảng, đồng thời chứng minh sức sống bền vững của tư tưởng Hồ Chí Minh trong quá trình phát triển đất nước.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trên tất cả các lĩnh vực.
Đối với việc sắp xếp đơn vị hành chính theo mô hình chính quyền địa phương 2 cấp từ ngày 01/7/2025, đến nay cả nước chỉ còn 34 đơn vị hành chính cấp tỉnh và tương đương. Sau 01 năm đi vào hoạt động với nỗ lực vượt bậc của cả hệ thống chính trị, những thành tựu bước đầu là rất đáng khích lệ, thể hiện tính đúng đắn trong quyết sách sắp xếp lại giang sơn của Đảng và sự đồng thuận của nhân dân. Ngày 18/6/2026, đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm làm việc với Ban Chỉ đạo Trung ương về sơ kết 01 năm vận hành mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị, mô hình chính quyền 3 cấp (cả cấp Trung ương), khẳng định: Qua sơ kết 1 năm, toàn hệ thống chính trị đã hoàn thành khối lượng công việc rất lớn, cấu trúc thành công bộ máy chỉ trong thời gian ngắn. Trong đó, thể chế và tổ chức bộ máy, kết cấu hạ tầng, nguồn nhân lực, tạo chuyển biến nền tảng đối với mô hình phát triển. Tư duy từ "quản lý" sang "kiến tạo phát triển" từng bước được cụ thể hóa, nhất là sau khi Nghị quyết số 66-NQ/TW của Bộ Chính trị được ban hành, góp phần tháo gỡ nhiều điểm nghẽn kéo dài, khơi thông nguồn lực và cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh. Cải cách tổ chức bộ máy và mô hình chính quyền địa phương 2 cấp gắn với phân cấp, phân quyền được đẩy mạnh, tạo chuyển dịch quan trọng trong phương thức quản trị theo hướng trao quyền đi đôi với trách nhiệm, phát huy tinh thần chủ động, sáng tạo, giúp bộ máy tinh gọn hơn, điều hành ở địa phương chủ động hơn, chi phí tuân thủ giảm dần.
Đặc biệt, theo đánh giá quốc tế, chỉ số phát triển con người tiếp tục cải thiện, chỉ số hạnh phúc tăng mạnh (37 bậc, từ xếp hạng 83 năm 2000 lên 46 năm 2025), phản ánh tiến bộ thực chất về chất lượng cuộc sống chứ không chỉ về thu nhập. Chính sách an sinh xã hội được triển khai toàn diện, nhất quán với mức chi cao (17% tổng chi ngân sách) nhằm "không để ai bị bỏ lại phía sau"; hoàn thành sớm mục tiêu xóa nhà tạm, phát triển mạnh nhà ở xã hội. Tuy nhiên, Đồng chí cũng yêu cầu: tập trung đánh giá kỹ lưỡng về tính đồng bộ, thống nhất, minh bạch, cụ thể của thể chế pháp luật hiện hành, nhất là pháp luật liên quan đến hoạt động của chính quyền địa phương trong một số lĩnh vực: khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số; đất đai, tài nguyên, khoáng sản, lâm nghiệp; tài chính-ngân sách; phân cấp, phân quyền và ranh giới thẩm quyền giữa Trung ương, địa phương.
Theo Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2021 - 2025 đạt bình quân khoảng 6,3%/năm, thuộc nhóm các nền kinh tế tăng trưởng cao trong khu vực và trên thế giới; riêng năm 2025 đạt 8,02%. Quy mô nền kinh tế ước đạt 514 tỷ USD, GDP bình quân đầu người khoảng 5.026 USD, đưa Việt Nam gia nhập nhóm nước có thu nhập trung bình cao. Chất lượng tăng trưởng tiếp tục được cải thiện, đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp vào tăng trưởng đạt khoảng 47%. Những kết quả đó phản ánh sự phát triển mạnh mẽ về tiềm lực kinh tế, vị thế và uy tín quốc tế của đất nước.
Trên nền tảng những thành tựu đã đạt được, Đại hội XIV xác định mục tiêu đến năm 2030 đưa Việt Nam đạt tốc độ tăng trưởng GDP bình quân từ 10%/năm trở lên, GDP bình quân đầu người khoảng 8.500 USD, nâng tỷ trọng kinh tế số lên khoảng 30% GDP, tiếp tục nâng cao năng suất lao động, chất lượng tăng trưởng và năng lực cạnh tranh quốc gia. Đặc biệt, theo báo cáo của Chính phủ, tổng sản phẩm quốc nội GDP 6 tháng đầu năm 2026 tăng 8,16%, cao nhất trong hơn một thập kỷ đã qua. Những mục tiêu và thành quả đạt được thể hiện khát vọng phát triển mạnh mẽ của dân tộc trong kỷ nguyên mới, đồng thời là bước tiếp nối sinh động tư tưởng phát triển đất nước mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt nền móng từ rất sớm.
Có thể khẳng định rằng, từ chân lý “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” đến khát vọng “xây dựng đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn” là một chỉnh thể thống nhất trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Nếu độc lập, tự do là điều kiện tiên quyết để dân tộc tồn tại và phát triển thì xây dựng đất nước phồn vinh, hùng cường, nhân dân ấm no, hạnh phúc là mục tiêu lâu dài của cách mạng Việt Nam. Trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, việc tiếp tục phát huy tinh thần của Lời kêu gọi chống Mỹ, cứu nước chính là phát huy ý chí tự lực, tự cường, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, khát vọng đổi mới sáng tạo và quyết tâm hiện thực hóa mục tiêu xây dựng Việt Nam phát triển nhanh, bền vững, hùng cường và thịnh vượng.
Kết luận
Lời kêu gọi chống Mỹ, cứu nước ngày 17/7/1966 của Chủ tịch Hồ Chí Minh là văn kiện lịch sử có giá trị tư tưởng và thực tiễn sâu sắc. Sáu mươi năm trôi qua, chân lý “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” và khát vọng “xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn” vẫn là nguồn động lực tinh thần to lớn, tiếp tục soi đường cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, phát huy tinh thần của Lời kêu gọi chính là phát huy ý chí độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và khát vọng phát triển, quyết tâm xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, phồn vinh, văn minh và hạnh phúc.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Hồ Chí Minh (2011), Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 15, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
2. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập 1, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
3. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
4. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Kết luận số 01-KL/TW ngày 18/5/2021 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị khóa XII về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.
5. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (2021), Giáo trình Tư tưởng Hồ Chí Minh (Dành cho hệ cao cấp lý luận chính trị), Nhà xuất bản Lý luận chính trị, Hà Nội.
6. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (2021), Giáo trình Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam (Dành cho hệ cao cấp lý luận chính trị), Nhà xuất bản Lý luận chính trị, Hà Nội.
7. Bảo tàng Hồ Chí Minh, "Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi đồng bào và chiến sĩ cả nước (17/7/1966)". Bảo tàng Hồ Chí Minh
8. Bảo tàng Lịch sử Quốc gia, "17/7/1966: Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi chống Mỹ, cứu nước, khẳng định chân lý ''Không có gì quý hơn độc lập, tự do''". Bảo tàng Lịch sử Quốc gia.
9. Thông báo số 100-TB/VPTW của Văn phòng Trung ương Đảng, ngày 19/6/2026. thông báo Kết luận của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại cuộc làm việc với Ban Chỉ đạo Trung ương về sơ kết 1 năm vận hành mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị, mô hình chính quyền 3 cấp.
Tác phẩm sưu tầm
Nguồn: ThS Chu Mai Phong
Giảng viên Khoa Lý luận cơ sở
[1] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t.12. tr.107.



