Bài viết

Súng trường thu được của địch trong trận đánh đồn Đông Triều ngày 8/6/1945

Gia Lai17/05/2026Ban Biên tập tổng hợp1 lượt xem0 lượt chia sẻ

Súng trường thu được của địch trong trận đánh đồn Đông Triều ngày 8/6/1945Khẩu súng trường thu được của địch trong trận đánh đồn Đông Triều, ngày 8/6/1945 có số đăng ký BTQK3 1167/KL334, là một trong hàng trăm khẩu súng mà các chiến sĩ cách mạng quân Chiến khu Trần Hưng Đạo (Chiến khu Đông Triều) thu được của địch, sau đó trang bị cho quân ta chiến đấu. Chính những khẩu súng này, các chiến sĩ du kích Chiến khu Đông Triều đã tiêu diệt nhiều quân địch, góp phần làm nên những chiến thắng vang dội, cổ vũ mạnh mẽ phong trào đấu tranh ở vùng Duyên hải Đông Bắc của Tổ Quốc, tiến tới giành chính quyền trong cách mạng tháng Tám năm 1945 trong cả nước.

Để bổ sung thêm thông tin về hiện vật trong trận đánh đồn Đông Triều và sự đời của Chiến khu Trần Hưng Đạo tiền thân của Liên Khu 3, Quân khu 3 ngày nay, một ngày đầu thu, tháng 8/2016, chúng tôi lên Hà Nội tìm gặp cụ Lê Phú, nguyên là Đại đội trưởng đầu tiên của Đại đội Ký Con, đơn vị được thành lập sau trận thắng Đồn Uông Bí, Bí Chợ của du kích quân cách mạng Chiến khu Đông Triều. Rất may mắn cho chúng tôi khi gặp được cụ, ở độ tuổi 92 “xưa nay hiếm”, cụ vẫn rất minh mẫn và hoạt bát. Khi được chúng tôi hỏi về những sự kiện lịch sử đã xảy ra cách đây hơn 70 năm, cụ chậm rãi kể: Cụ Lê Phú, du kích cách mạng quân Chiến khu Đông Triều, Đại đội trưởng Đại đội Ký Con – Liên khu 3. Sau Hội nghị Quân sự cách mạng Bắc kỳ họp tại Hiệp Hòa (Bắc Giang) từ ngày 15 đến ngày 20/4/1945 do đồng chí Tổng Bí thư Trường Chinh chủ trì, Hội nghị đã quyết định thành lập 7 chiến khu trong cả nước. Trên địa bàn sông Hồng và vùng phụ cận có Chiến khu Quang Trung và Chiến khu Trần Hưng Đạo. Tại vùng Đông bắc và Duyên hải Bắc bộ, dưới sự chỉ đạo của Xứ ủy Bắc kỳ, Tỉnh ủy Hải Dương cử hai đồng chí Trần Cung và Hải Thanh trực tiếp phụ trách việc chuẩn bị lập chiến khu ở khu vực Chí Linh – Đông Triều. Đồng chí Nguyễn Bình về Hải Phòng mua sắm vũ khí, liên hệ với các cơ sở Việt Minh, tranh thủ vận động binh lính địch, tạo điều kiện cho việc khởi nghĩa chống Nhật. Đồng chí Nguyễn Đức Thịnh Xứ ủy viên Xứ ủy Bắc kỳ và một số đồng chí khác thường xuyên theo dõi và chỉ đạo công tác chuẩn bị thành lập Chiến khu. Trong thời gian này phong trào đấu tranh tự phát đòi giảm sưu thuế, vũ trang chống phỉ, phá kho thóc Nhật chia cho dân nghèo của nhân dân vùng Đông Bắc và vùng Duyên hải Bắc bộ phát triển mạnh mẽ. Sau khi được tuyên truyền giác ngộ về đường lối cứu nước, giải phóng dân tộc, quần chúng đã hăng hái tham gia các tổ chức của Mặt trận Việt Minh, tham gia các đội du kích cách mạng sẵn sàng chờ lệnh nổi dậy khởi nghĩa. Trong khi đó bộ máy cai trị của Nhật ngày càng trở nên bất lực, hoang mang, rệu rã. Đêm 9/3/1945, Nhật làm cuộc đảo chính hất cẳng Pháp, nội bộ kẻ thù bị chia rẽ nghiêm trọng. Lợi dụng tình hình ấy, bọn “Việt quốc”, “Việt cách” - tay sai của quân Tưởng và bọn phản động người Hoa (Trung Quốc) tràn sang hoạt động phá hoại, hoành hành cướp phá, khiến vùng Đông Bắc càng thêm rối ren. Trước tình hình đó, Ban lãnh đạo khu căn cứ họp bàn và quyết định kế hoạch khởi nghĩa đánh chiếm đồn địch vào ngày 8/6/1945. Cuộc họp đã thảo luận phương án đánh chiếm các vị trí địch, phân công cán bộ trực tiếp chỉ huy đánh từng vị trí. Đồng chí Nguyễn Bình được đồng chí Nguyễn Hiền làm nội ứng, phối hợp phụ trách đánh đồn Đông Triều. Đồng chí Hải Thanh phụ trách phối hợp với quân phỉ Lương Đại Bân đánh đồn Chí Linh. Đồng chí Trần Cung có đồng chí Nguyễn Văn Đài phối hợp, phụ trách đánh đồn Tràng Bạch và tước vũ khí bọn chủ mỏ Mạo Khê. Rạng sáng ngày 8/6/1945, lực lượng vũ trang cách mạng ở Đông Triều kết hợp với lực lượng cách mạng của quần chúng được các cơ sở của Việt Minh chỉ đạo đã đồng loạt nổi dậy đánh các đồn Đông Triều, Mạo Khê, Tràng Bạch, Chí Linh, thủ tiêu bộ máy chính quyền bù nhìn tay sai phát xít Nhật. Trong trận đánh đồn Đông Triều, đồng chí Nguyễn Bình trực tiếp chỉ huy lực lượng tập trung ở chùa Bắc Mã rồi mới lên đường. Đi đầu là tổ cầm cờ, tiếp đến là 4 tiểu đội, với 4 súng trường, mấy quả lựu đạn, còn lại là dao, kiếm, mã tấu. Trên cánh tay trái mỗi người đeo một băng vải đỏ với ba chữ “Việt Minh quân” thêu bằng chỉ vàng. Riêng Nguyễn Bình cài một phù hiệu vải đỏ hình chữ nhật thêu ba chữ “TCH” (Tổng chỉ huy) cũng bằng chỉ vàng. Khi đoàn quân đến ngã tư huyện lỵ, Nguyễn Bình cho bắn 4 phát súng vừa nhằm thị uy, vừa làm hiệu lệnh cho nghĩa quân xông lên chiếm đồn bảo an binh. Lúc này, Đồn trưởng Nguyễn Hiền – nội ứng của ta ở trong đồn địch đã hạ lệnh cho hai lính gác mở to cổng đồn để nghĩa quân tiến vào. Chỉ trong chốc lát nghĩa quân đã chiếm xong đồn, cắm cờ đỏ sao vàng trên nóc lô cốt, tịch thu toàn bộ hơn 50 khẩu súng trường cùng đạn dược, hàng chục binh sĩ được nghe Nguyễn Bình giải thích về đường lối cứu nước của Việt Minh đã tự giải tán đi theo nghĩa quân. Súng trường thu được của địch trong trận đánh đồn Đông Triều, ngày 8/6/1945 và đồn Uông Bí, Bí Chợ, ngày 1/7/1945 trang bị cho du kích cách mạng quân Chiến khu Đông Triều chiến đấu đánh địch. Kể đến đây, cụ nhấp một ngụm nước rồi tiếp tục câu chuyện với chúng tôi: Khẩu súng trường mà Bảo tàng Quân khu 3 đang trưng bày là 1 trong 50 khẩu súng thu được của địch trong trận chiến đấu này. Có thể nói, trang bị vũ khí của ta thời kỳ đó rất ít, thô sơ, chỉ có kiếm, giáo… hầu như không có đủ cho các chiến sĩ. Nhưng với tài của người chỉ huy, chúng ta đã làm tốt công tác binh vận, địch vận, xây dựng được một lực lượng nội ứng trong đồn địch giúp ta đánh địch từ trong ra ngoài. Còn phía nhân dân luôn ủng hộ cách mạng. Ví như trận đánh đồn Tràng Bạch do đồng chí Trần Cung chỉ huy, tôi được cải trang ăn vận giả làm sĩ quan Nhật chỉ huy đi tuần, còn đồng chí Trần Cung thì đóng vai viên thông ngôn cho sĩ quan Nhật…Chính vì thế mà những trận đánh của du kích cách mạng quân Chiến khu ít bị đổ máu, nhanh chóng giành được chính quyền về tay chúng ta. Ngày 8/6/1945, với thành tích đánh thắng cùng một lúc 4 đồn địch ở Đông Triều, Chí Linh, Mạo Khê, Tràng Bạch, đã đánh dấu ngày chính thức ra đời của Chiến khu Trần Hưng Đạo - Đệ Tứ chiến khu, cùng lực lượng vũ trang chiến khu mang tên "Du kích cách mạng quân" do đồng chí Nguyễn Bình làm Tư lệnh. Đệ Tứ Chiến khu là một căn cứ địa cách mạng có ý nghĩa và tầm quan trọng nhiều mặt trong giai đoạn tiền khởi nghĩa và trong Cách mạng tháng Tám năm 1945 ở vùng Duyên hải Đông bắc Tổ quốc.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn