SUỐI NGUỒN YÊU THƯƠNG CHẢY QUA BAO MÙA BOM ĐẠN
“Em Cu Tai ngủ trên lưng mẹ ơi,
Em ngủ cho ngoan đừng rời lưng mẹ.
Mẹ giã gạo mẹ nuôi bộ đội,
Nhịp chày nghiêng, giấc ngủ em nghiêng...”
(Nguyễn Khoa Điềm – “Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ”)
Trong những năm tháng đất nước bị mài mòn bởi chiến tranh trường kỳ gian khổ, hình ảnh người mẹ ngồi bên cối giã gạo dưới mái nhà tranh đơn sơ đã trở thành một ký ức không thể nào quên, là “nét màu” khó phai trong kí ức những đứa con thơ bé. Tiếng chày giã gạo “cắc, cắc” vang lên đều đặn giữa đêm khuya tĩnh lặng, như nhịp đập bền bỉ của trái tim người mẹ hướng về tiền tuyến. Mỗi nhịp chày rơi xuống không chỉ làm trắng thêm hạt gạo, mà còn gửi gắm vào đó tình thương, niềm tin và cả nỗi lo lắng cho những người con đang nơi chiến trường. Mẹ giã gạo không chỉ để nuôi bộ đội, mà còn như đang góp sức lực của mình vào cuộc kháng chiến gian lao. Hình ảnh ấy giản dị mà thiêng liêng, như dòng sông âm thầm chảy, nuôi lớn cả một thế hệ anh hùng. Trong hành trình lịch sử của dân tộc, có những người mẹ đã sống như dòng sông ấy – lặng lẽ, bền bỉ, dẫu bị bom đạn cày xới vẫn không ngừng chảy, không ngừng nuôi dưỡng niềm tin vào ngày mai. Dòng sông ấy có lúc hiền hòa như lời ru con giữa trưa hè, nhưng cũng có khi cuộn mình trong nỗi đau như nước lũ mùa giông, dâng trào mà không thể gọi thành tên.
Giữa muôn vàn dòng sông của lòng mẹ Việt Nam, mẹ Nguyễn Thị Thứ hiện lên như một khúc sông đặc biệt – nơi hội tụ của những hy sinh lớn lao đến tận cùng. Cuộc đời mẹ là một hành trình chảy qua biết bao “mùa bom đạn”, nơi từng đợt sóng là một lần tiễn con ra trận, từng con nước rút là một lần mẹ nhận tin dữ. Mẹ dù không cầm súng ra trận, nhưng trái tim mẹ lại là chiến trường khốc liệt nhất – nơi chứa đựng nỗi đau mất mát nhưng lại thấm đẫm tình yêu nước vô bờ. Mẹ có tới 9 người con, 1 cháu và 1 con rể đã hy sinh trên chiến trường – chính là biểu tượng thiêng liêng của sự hy sinh thầm lặng mà vĩ đại. Cuộc đời của mẹ không chỉ là câu chuyện của riêng một con người, mà là bản trường ca về lòng yêu nước, về sự chịu đựng bền bỉ, lớn lao như đất mẹ, như sông dài.
Mẹ Nguyễn Thị Thứ (1904 – 10 tháng 12 năm 2010) sinh ra và lớn lên trên mảnh đất Quảng Nam đầy nắng gió, nơi từng tấc đất đều in dấu chân của chiến tranh. Mẹ là người phụ nữ có nhiều con cháu hy sinh nhất trong hai cuộc chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ ( từ năm 1948 đến ngày 30 tháng 4 năm 1975). Hình ảnh mẹ được lấy làm nguyên mẫu xây dựng tượng đài Mẹ Việt Nam Anh hùng tại tỉnh Quảng Nam nhân dịp 60 năm Ngày Thương binh, liệt sĩ. Cuộc đời mẹ giống như một cánh đồng lúa trải qua bao mùa giông bão – cứ gặt đi rồi lại gieo, nhưng những mất mát thì chẳng thể nào bù đắp. Khi đất nước chìm trong khói lửa, các con của mẹ lần lượt ra đi, mang theo tuổi xuân và cả ước mơ còn dang dở. Mỗi lần tiễn con, lòng mẹ như có ai xé thành từng mảnh, nhưng mẹ vẫn nén lại, như cây tre già cắm rễ sâu vào đất, dẫu bão táp vẫn không gục ngã.
Mẹ Thứ có 12 người con (11 trai và 1 gái) thì 9 con trai đã hy sinh. Chín người con của mẹ lần lượt hy sinh. Nỗi đau ấy, nếu đem cân đo, có lẽ nặng hơn cả núi, sâu hơn cả biển. Nhưng mẹ không gục xuống. Mẹ vẫn sống, vẫn lặng lẽ như dòng sông âm thầm chảy qua những mùa hạn hán, mang theo cả phù sa lẫn nỗi buồn không lời. Người ta thường nói, mất một người thân đã là đau đớn tột cùng, vậy mà mẹ phải tiễn biệt gần như cả cuộc đời mình. Nỗi đau của mẹ không ồn ào, không bi lụy, mà lặng thầm như giọt nước thấm vào đất, để rồi kết tinh thành lòng yêu nước bất diệt.
Có lẽ điều khiến người đời xúc động nhất không chỉ là sự mất mát, mà còn là cách mẹ đối diện với nó. Mẹ không trách than số phận, không oán hận chiến tranh, mà trái lại, mẹ vẫn giữ một niềm tin mãnh liệt vào ngày đất nước hòa bình. Tấm lòng của mẹ rộng lớn như bầu trời, ôm trọn cả những đau thương mà vẫn dang rộng để che chở cho quê hương. Mẹ giống như ngọn đèn dầu leo lét trong đêm dài, tuy nhỏ bé nhưng chưa bao giờ tắt, soi sáng niềm tin cho cả một thế hệ.
Hình ảnh mẹ ngồi bên mâm cơm với 9 chiếc bát như đang chờ 9 người con trở về, mái tóc bạc trắng như rặng mây chiều, đôi mắt sâu thẳm như chứa cả một thời chiến tranh, đã trở thành biểu tượng của sự hy sinh thầm lặng. Đó không chỉ là nỗi đau của riêng mẹ, mà là nỗi đau chung của cả dân tộc. Mỗi nếp nhăn trên gương mặt mẹ như một vết khắc của lịch sử, mỗi giọt nước mắt như một chứng nhân của thời đại.
Trong hoàn cảnh đất nước lâm vào cuộc chiến tranh khốc liệt, mẹ đành gác lại tình riêng để hoà chung nhiệp đập của Tổ Quốc, theo lời kêu gọi của đất nước, mẹ động viên chồng con lên đường chiến đấu. Con gái đầu và cũng là con gái duy nhất của mẹ là bà Lê Thị Trị cũng được trao tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng khi có chồng và 2 con gái là liệt sĩ. Bởi lẽ ấy có người phải thốt lên rằng “Hiếm có người mẹ nào trên thế giới này mang nhiều nỗi đau và sự hy sinh cho Tổ quốc như mẹ Thứ”. Ngày 18-6-1948, anh Lê Tự Xuyến - chiến sĩ giao liên bị Pháp bắn tại đầu làng. Nửa tháng sau, ngày 5-10-1948, con trai Lê Tự Hàn Anh hy sinh khi làm nhiệm vụ tải thương. 10 ngày sau, con trai Lê Tự Hàn Em ngã xuống trong trận chống càn. Con trai Lê Tự Lem tròn 20 tuổi hy sinh trong lúc chiến đấu ở huyện nhà vào tháng 4-1954. Con rể của mẹ là Ngô Tường (chồng của mẹ VNAH Lê Thị Trị) tham cách mạng từ thời chống Pháp, bị giặc Mỹ bắt năm 1956, bị tra tấn cho đến lúc mất, được công nhận là liệt sĩ.Trong vòng 6 năm, mẹ Thứ mất tới 5 người con, đau thương dồn dập nhưng cứ khi con trưởng thành, mẹ vẫn nén lại nỗi đau, vẫn động viên, tiễn con ra chiến trường.
Tháng 9-1966, con trai Lê Tự Nự hy sinh. Năm 1972, anh Lê Tự Mười và anh Lê Tự Trịnh hy sinh. Năm 1974, anh Lê Tự Thịnh - Ðại đội trưởng bộ đội ở huyện Duy Xuyên hy sinh trong lần chỉ huy đơn vị đánh đồn giặc. Con trai cả Lê Tự Chuyển - chiến sĩ biệt động Sài Gòn hy sinh vào 9 giờ ngày 30-4-1975 ngay trên cầu Rạch Chiếc ở cửa ngõ vào Sài Gòn, chỉ trước vài giờ khi đất nước thống nhất. Mẹ Thứ còn 2 cháu ngoại là con gái của mẹ Trị là Ngô Thị Điểu bị giặc Mỹ bắt tra hỏi, hy sinh tháng 8-1970 và Ngô Thị Cúc hy sinh trong lần công tác vào vùng địch hậu năm 1973. Gia đình của mẹ có tới tận 12 liệt sĩ, một nỗi đau khôn cùng không thể tả xiết.
Nhiều người dân xã Điện Thắng Trung đến nay vẫn còn nhớ như in từng chi tiết về gia đình mẹ Nguyễn Thị Thứ. Giữa những năm tháng chiến tranh khốc liệt, khi chồng con lần lượt ra trận, một mình mẹ tần tảo nuôi con, nuôi cháu khôn lớn – một hành trình gian nan tưởng chừng không thể gánh vác. Thế nhưng, mẹ và gia đình vẫn vừa sản xuất, vừa âm thầm đào hầm nuôi giấu cán bộ, cùng du kích giữ làng, giữ đất. Nỗi đau cứ nối tiếp nỗi đau. Nấm mồ này cỏ còn chưa kịp xanh, mẹ đã phải lặng lẽ đắp thêm một nấm mộ mới cho người con ruột thịt. nhưng mẹ vẫn nén chặt vào lòng, biến đau thương thành sức mạnh, tiếp tục che chở cho cách mạng.
Khu vườn nhỏ của mẹ trở thành một pháo đài thầm lặng. Dưới lớp đất hiền hòa ấy là năm căn hầm bí mật được đào khéo léo, ẩn mình dưới bóng cây xanh rậm rạp. Những đàn bò thong thả gặm cỏ không chỉ là kế sinh nhai, mà còn là lớp ngụy trang tinh tế, che mắt kẻ thù. Suốt ba mươi năm ròng, ngọn đèn bên bàn thờ trong nhà mẹ chưa bao giờ tắt – ánh sáng ấy vừa là nén hương tưởng nhớ người đã khuất, vừa là tín hiệu âm thầm báo hiệu sự an toàn cho cán bộ, du kích trở về hoạt động. Khi yên ổn, mẹ và các con khẽ mở hé cửa hầm cho người bên trong dễ thở; khi nguy biến, mẹ lại bình thản như người chăn bò, vừa trông nom gia súc, vừa kín đáo chỉnh trang, ngụy trang lại từng dấu vết.
Trong vòng tay của mẹ, hàng trăm cán bộ, bộ đội, du kích đã được chở che, nuôi dưỡng. Mẹ hiền từ, ân cần, thương những người lính như chính máu thịt của mình. Mỗi lần họ ghé về, mẹ lại dặn dò từng chút một, lo lắng từ miếng ăn, giấc ngủ đến sự an nguy nơi chiến trường. Tình thương của mẹ không chỉ dành cho những người con ruột thịt, mà còn lan rộng như dòng sông, ôm trọn những người lính cụ Hồ – những đứa con chung của Tổ quốc.
Ngày 17 tháng 2 năm 1994, Mẹ Nguyễn Thị Thứ đã được Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam và Quốc hội Việt Nam trao tặng danh hiệu Bà Mẹ Việt Nam Anh hùng. Mẹ Nguyễn Thị Thứ đã qua đời hồi 1 giờ 40 phút ngày 10 tháng 12 năm 2010, hưởng thọ 106 tuổi, an táng tại Nghĩa trang liệt sĩ huyện Điện Bàn ở xã Điện Thắng Trung. Sự ra đi của người mẹ VNAH để lại nhiều điều nuối tiếc cho Nhà nước, rất nhiều lãnh đạo cấp cao đã đến dự viếng tang lễ, nhiều tờ báo đã cập nhật thông tin về tiểu sử và tang lễ của bà, đặc biệt là Báo Nhân dân. Từ tháng 12 năm 2011, tại thị trấn Vĩnh Điện, huyện Điện Bàn có con đường tên là Mẹ Thứ.
Với tình cảm và sự ngưỡng mộ sâu sắc với các bà mẹ Việt Nam anh hùng, với nguồn cảm hứng từ ý tưởng: “ Mẹ là suối nguồn bao la vô tận, Mẹ là linh hồn của Đất nước. Mẹ sinh ra từ mảnh đất anh hùng, sinh ra những người con anh hùng và sẽ lại hoá thân vào đất, vào non nước Việt Nam. Mẹ sẽ sống mãi ngàn đời với các thế hệ con cháu hôm nay và mai sau. Mẹ vẫn tiếp thêm nguồn sức sống mạnh mẽ cho các thế hệ trẻ trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam vững chắc, giàu mạnh ” hoạ sĩ Đinh Gia Thắng và kiến trúc sư Nguyễn Luận đã vẽ nên bản phác thảo cho tượng đài mẹ Thứ. Đây là tượng đài lớn nhất Việt Nam về Mẹ Việt Nam anh hùng, lấy nguyên mẫu từ mẹ Nguyễn Thị Thứ được xây dụng ở trên đỉnh núi Cấm, thuộc thôn Phú Thạnh, xã Tam Phú, thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam nay là phường Quảng Phú thuộc thành phố Đà Nẵng. Tượng được tạc bằng đá sa thạch, mang hình dáng như một dãy núi lớn ôm lấy đất trời.
Hình tượng mẹ ở trung tâm, hai bên là các khối đá như những gương mặt người con – tượng trưng cho hàng triệu người đã hy sinh vì Tổ quốc. Hình ảnh mẹ Nguyễn Thị Thứ không chỉ sống trong ký ức, mà còn hóa thân thành núi đá nơi Tượng đài Mẹ Việt Nam Anh hùng – sừng sững giữa đất trời như một biểu tượng bất tử. Tượng mẹ như dãy núi ôm trọn non sông, như vòng tay bao la che chở cho những đứa con của đất nước, nhắc nhở thế hệ hôm nay về những hy sinh không gì có thể đong đếm.
Mẹ Nguyễn Thị Thứ đã đi qua cuộc đời như một ngọn núi lặng im mà vĩ đại, mang trên mình biết bao đau thương nhưng vẫn đứng vững trước thời gian. Sự hy sinh của mẹ không chỉ là ký ức, mà là lời nhắc nhở sâu sắc đối với mỗi chúng ta về giá trị của hòa bình và độc lập. Thế hệ trẻ hôm nay, khi sống dưới bầu trời yên bình, càng phải biết ơn, gìn giữ và tiếp bước con đường mà các mẹ, các anh hùng liệt sĩ đã mở ra. Bởi lẽ, nếu các mẹ là gốc rễ nuôi dưỡng cây đời dân tộc, thì chúng ta chính là những cành lá hôm nay – phải vươn lên xanh tốt, để không phụ lòng những hy sinh thầm lặng mà lớn lao như biển trời ấy.



