Tạ Lưu - Người bác sĩ anh hùng trên tuyến lửa Trường Sơn
Năm 1969, ở tuổi 38, bác sĩ quân y Tạ Lưu được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Ông trở thành biểu tượng của lòng dũng cảm và y đức trên tuyến lửa Trường Sơn.
Bác sĩ Tạ Lưu sinh năm 1931 tại xã Tương Giang, Từ Sơn, Bắc Ninh (nay là phường Tam Sơn, tỉnh Bắc Ninh), vùng đất Kinh Bắc trù phú, nổi tiếng với những câu ca quan họ mượt mà và những truyền thống văn hiến lâu đời. Trong nếp nhà thuần hậu nơi miền quê cổ kính, cậu bé Tạ Lưu lớn lên qua những câu chuyện về lòng trung nghĩa, tinh thần yêu nước của bao thế hệ. Có lẽ cũng từ nền văn hóa đó mà trong ông sớm hình thành đức hy sinh, lòng nhân ái và ý chí phụng sự Tổ quốc bằng tất cả khả năng.
Năm 1947, khi mới 16 tuổi, đất nước trong cơn binh lửa, Tạ Lưu tình nguyện theo lớp y tá quân đội. Cậu thiếu niên gầy gò, đôi mắt sáng nhưng quyết đoán ấy nhanh chóng trở thành người lính quân y trẻ phục vụ trong Chiến dịch Trung - Hạ Lào năm 1953. Những ngày đầu đứng trong lán mổ dã chiến, giữa mùi thuốc sát trùng lẫn mùi khói súng, trước mắt là những thân thể bê bết máu của đồng đội, Tạ Lưu thấm thía rằng con đường mình chọn sẽ đối diện với bao thử thách, ranh giới sinh tử, nhưng trên hết là trách nhiệm của người lính quân y.

Đội điều trị 14 trong rừng Trường Sơn năm 1966. Ảnh tư liệu
Sau khi Chiến dịch Điện Biên Phủ kết thúc, đất nước hân hoan trong thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Tạ Lưu được điều về Khoa Phẫu thuật, Viện Quân y 108, nơi hội tụ những bác sĩ xuất sắc nhất lúc bấy giờ. Nhờ kinh nghiệm thực tế dày dặn, ông nhanh chóng trở thành y tá ngoại giỏi, điềm đạm, chắc tay trong từng mũi khâu, vết rạch. Nhưng không dừng lại ở đó, ông luôn tự nhủ: “Giỏi nghề hơn sẽ cứu được nhiều người hơn”. Và thế là giữa những đêm trắng của phòng trực, ông lặng lẽ học thêm, ghi chép, tìm tòi kinh nghiệm.
Trong giai đoạn kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, năm 1962, ông được chọn về Học viện Quân y đi học lớp bác sĩ. Nỗ lực suốt ba năm, cuối năm 1965, Tạ Lưu tốt nghiệp và được điều về Đội điều trị 14 thuộc Tổng cục Hậu cần, trực tiếp tham gia phục vụ chiến đấu trên tuyến lửa Trường Sơn.
Từ lúc đặt chân đến Trường Sơn, bác sĩ Tạ Lưu mới thật sự hiểu thế nào là gian khổ. Rừng núi mênh mông, thẳm sâu, trập trùng như không bao giờ dứt. Mùa khô, đất bụi, nắng rát. Mùa mưa, suối dâng trắng xóa, rừng rậm ẩm thấp và muỗi vắt bủa vây. Những bom phá, bom bi, bom từ trường mà đế quốc Mỹ ném xuống từng ngày, từng giờ, cày nát cả đường rừng. Ấy vậy mà giữa nơi “cửa tử” ấy, những thầy thuốc quân y như bác sĩ Tạ Lưu vẫn ngày đêm bám trụ để cứu thương binh. Đội điều trị 14 được giao phụ trách các trọng điểm ác liệt trên đường 15 và đường 12. Chỉ một lầm lỡ, cả đội có thể bị xóa sổ.
Khó khăn không làm bác sĩ Tạ Lưu và đồng đội chùn bước. Một căn hầm chữ A, vài tấm ni lông che mưa, chiếc đèn dầu leo lét, một bàn mổ tự chế… tất cả là bệnh viện dã chiến của họ. Nhiều ngày liền, ông phải đứng mổ hơn 10 tiếng. Nhiều đêm không chợp mắt, tiếng gọi cấp cứu lại vang lên giữa rừng. Các thương binh được khiêng đến, mặt còn dính bụi đường Trường Sơn, máu và đất hòa vào nhau. Tạ Lưu không bao giờ từ chối một ca nào, bất kể khó đến đâu.
Thiếu thuốc, thiếu dụng cụ, bác sĩ Tạ Lưu và các đồng đội sáng tạo ra nhiều kỹ thuật “dã chiến”. Đó là gây mê nội khí quản bằng ống tự chế, truyền tĩnh mạch ngược chiều, thậm chí truyền máu trực tiếp khi không có dung dịch chống đông. Những sáng kiến ấy đã cứu sống bao nhiêu sinh mạng ngay tại chiến trường, trong điều kiện thiếu thốn đủ thứ.

Đại tá, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, bác sĩ Tạ Lưu.
Mọi người nhắc đến ông như một người anh, một người bác sĩ, một chiến sĩ có thể mang hy vọng đến ngay cả trong lúc hiểm nguy nhất. Với những thành tích xuất sắc, tháng 6 năm 1969, khi mới 38 tuổi, bác sĩ Tạ Lưu được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Đội điều trị 14 vinh dự nhận danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân vào năm 1973.
Năm 1970, bác sĩ Tạ Lưu trở lại miền Bắc học nâng cao tại Bệnh viện Việt - Đức dưới sự hướng dẫn của Giáo sư Tôn Thất Tùng. Sau đó, ông được cử đi học sau đại học tại Học viện Quân y Kirov (Liên Xô). Về nước, ông lần lượt giữ chức Chủ nhiệm Khoa Ngoại chung, Viện phó rồi Viện trưởng Viện Quân y 110 (nay là Bệnh viện Quân y 110). Năm 1993, ông nghỉ hưu với quân hàm Đại tá, kết thúc 46 năm bền bỉ cống hiến cho quân đội và nhân dân.



