TẠ QUANG BỬU
- Họ và tên: Tạ Quang Bửu - Bí danh/tên gọi khác: Không có bí danh hoạt động bí mật phổ biến, thường được gọi kính trọng là Giáo sư Tạ Quang Bửu. - Năm sinh: 23/7/1910 - Năm mất: 21/8/1986 - Quê quán: Xã Khánh Sơn, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. - Danh hiệu: Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt I (năm 1996) về Khoa học công nghệ; Huân chương Độc lập hạng Nhất; Huân chương Kháng chiến hạng Nhất; Huân chương Chiến thắng hạng Nhất; Huân chương Hồ Chí Minh; Huân chương Kháng chiến chống Mỹ, cứu nước hạng Nhất; Huân chương Chiến công hạng Nhất; Huân chương Chiến sĩ vẻ vang hạng Ba. - Cấp bậc từng giữ: Không phong quân hàm (tuy nhiên ông giữ các trọng trách tương đương tướng lĩnh trong Bộ Quốc phòng). - Chức vụ từng giữ: Bộ trưởng Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Thứ trưởng kiêm Tổng tham mưu phó Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng (trong Chính phủ Liên hiệp kháng chiến), Hiệu trưởng Trường Đại học Bách khoa Hà Nội, Đại biểu Quốc hội từ khóa I đến khóa VII.
1. Các thông tin:
- Họ và tên: Tạ Quang Bửu
- Bí danh/tên gọi khác: Không có bí danh hoạt động bí mật phổ biến, thường được gọi kính trọng là Giáo sư Tạ Quang Bửu.
- Năm sinh: 23/7/1910
- Năm mất: 21/8/1986
- Quê quán: Xã Khánh Sơn, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.
- Danh hiệu: Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt I (năm 1996) về Khoa học công nghệ; Huân chương Độc lập hạng Nhất; Huân chương Kháng chiến hạng Nhất; Huân chương Chiến thắng hạng Nhất; Huân chương Hồ Chí Minh; Huân chương Kháng chiến chống Mỹ, cứu nước hạng Nhất; Huân chương Chiến công hạng Nhất; Huân chương Chiến sĩ vẻ vang hạng Ba.
- Cấp bậc từng giữ: Không phong quân hàm (tuy nhiên ông giữ các trọng trách tương đương tướng lĩnh trong Bộ Quốc phòng).
- Chức vụ từng giữ: Bộ trưởng Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Thứ trưởng kiêm Tổng tham mưu phó Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng (trong Chính phủ Liên hiệp kháng chiến), Hiệu trưởng Trường Đại học Bách khoa Hà Nội, Đại biểu Quốc hội từ khóa I đến khóa VII.
2. Khái quát về cuộc đời, sự nghiệp của nhân chứng lịch sử:
- Từ năm 1929 đến 1934, đồng chí nhận được học bổng của Chính phủ Pháp, sang Paris học tập tại các trường đại học danh tiếng như Sorbonne, Centrale Paris, Bordeaux và Toulouse. Sau khi thi đỗ cử nhân toán học, đồng chí tiếp tục tự học và nghiên cứu sâu về vật lý lý thuyết, cơ học lượng tử rồi trở về nước gieo mầm tri thức tại Huế.
- Tháng 8/1945, ngay sau Tổng khởi nghĩa, đồng chí ra Hà Nội tham gia chính quyền cách mạng theo lời mời của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đồng chí được bổ nhiệm làm Tham nghị trưởng Bộ Ngoại giao trong Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
- Tháng 3/1946, tại Quốc hội khóa I, đồng chí được bầu giữ chức Thứ trưởng Bộ Quốc phòng trong Chính phủ Liên hiệp kháng chiến. Tháng 7/1947, đồng chí được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương. Từ tháng 8/1947 đến tháng 7/1948, đồng chí đảm nhiệm cương vị Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, trực tiếp đóng góp to lớn vào việc chỉ đạo xây dựng ngành kỹ thuật quân sự quân đội ta.
- Từ năm 1948 đến năm 1954, đồng chí giữ chức Thứ trưởng Bộ Quốc phòng kiêm Chánh Văn phòng Quân ủy Trung ương, kiêm Tổng tham mưu phó Quân đội nhân dân Việt Nam. Trong giai đoạn này, đồng chí là người đặt nền móng cho việc nghiên cứu, chế tạo vũ khí tự lực của Việt Nam (như súng không giật SKZ, đạn Bazooka) phục vụ chiến trường, đồng thời trực tiếp tham gia chỉ đạo nhiều chiến dịch lớn.
- Tháng 7/1954, tại Hội nghị Giơnevơ về Đông Dương, đồng chí được cử làm đại biểu của Bộ Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam, trực tiếp ký bản Hiệp định đình chỉ chiến sự tại Việt Nam và Lào — một dấu mốc lịch sử mở ra trang mới cho cách mạng nước nhà.
- Từ năm 1956 đến năm 1961, đồng chí giữ chức Giám đốc (Hiệu trưởng) đầu tiên của Trường Đại học Bách khoa Hà Nội, trực tiếp xây dựng nền móng đào tạo kỹ sư công nghệ chất lượng cao cho đất nước.
- Từ năm 1965 đến năm 1976, đồng chí giữ chức Bộ trưởng Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp (nay là Bộ Giáo dục và Đào tạo). Trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước, đồng chí đã chỉ đạo sơ tán hệ thống đại học an toàn, duy trì việc học, đồng thời tiên phong đưa các tiến bộ toán học quân sự, mật mã, và giải pháp rà phá bom từ trường (như dự án GK1 phá bom nổ chậm ở cảng Hải Phòng) vào thực tiễn chiến đấu.
- Đồng chí liên tục được bầu làm Đại biểu Quốc hội từ khóa I đến khóa VII, đồng thời là Ủy viên Hội đồng Quốc phòng tối cao từ khóa II đến khóa VI.
- Do công lao và cống hiến đặc biệt xuất sắc đối với sự nghiệp khoa học kỹ thuật, giáo dục và nền quốc phòng nước nhà, cố Giáo sư Tạ Quang Bửu đã được Đảng và Nhà nước truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt I (năm 1996) cùng nhiều Huân, Huy chương cao quý khác. Tên của ông ngày nay được trân trọng đặt cho nhiều tuyến phố lớn, trường học và giải thưởng khoa học uy tín tại Việt Nam.


