Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

TÁC GIẢ NGUYỄN NAM ĐÔNG - CỰU CHIẾN SĨ "AN NINH KHÔNG SỐ"

Ông Nguyễn Nam Đông là trinh sát của Thành đội Huế. Trong cuộc Tổng tấn công tết Mậu Thân 1968, đơn vị ông nổ súng đánh chiếm thành Huế. Sau 25 ngày đêm kiên cường bám trụ trong Thành nội, đánh bật hơn chục cuộc hành quân tái chiếm Huế của Mỹ - ngụy, đơn vị ông được lệnh rút ra căn cứ. Sau khi làm chủ Huế, Mỹ - ngụy quay sang đàn áp phong trào cách mạng. Thành đội Huế cử ông làm tiểu đội phó Tiểu đội Quyết tử bám trụ lại địa bàn.

Quảng Trị29/01/2026Lê Thị Liên (Liên đội trường Tiểu học Phong Bình)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Ông Nguyễn Nam Đông sinh năm 1950 tại Tp Hải Dương, nhập ngũ tháng 3/1967 giữa lúc cuộc kháng chiến chống Mỹ đang vào giai đoạn ác liệt. Ông là trinh sát của Thành đội Huế. Trong cuộc Tổng tấn công tết Mậu Thân 1968, đơn vị ông nổ súng đánh chiếm thành Huế. Sau 25 ngày đêm kiên cường bám trụ trong Thành nội, đánh bật hơn chục cuộc hành quân tái chiếm Huế của Mỹ - ngụy, đơn vị ông được lệnh rút ra căn cứ. Sau khi làm chủ Huế, Mỹ - ngụy quay sang đàn áp phong trào cách mạng. Thành đội Huế cử ông làm tiểu đội phó Tiểu đội Quyết tử bám trụ lại địa bàn.

"Thời đó nghe ở đâu có tiếng súng AK, dân mình biết là cách mạng còn tồn tại ở đó, để giữ vững niềm tin, không hoang mang dao động" - ông kể. Địa bàn hoạt động của tiểu đội tại huyện Phú Vang (Thừa Thiên - Huế). Ngày nằm hầm bí mật, đêm tiểu đội ông lên mặt đất tìm địch đánh. Ngày 28/8/1968, ông bị địch bắt trong hầm vì có chỉ điểm. Khi đó ông đã bị thương vỡ bả vai phải, tiểu đội hy sinh gần hết. Địch đưa ông về giam tại nhà lao Mang Cá lớn trong Huế. Sau đó chúng chuyển ông vào Trại giam vùng 1 chiến thuật, đóng tại Non Nước, Đà Nẵng. Đến tháng 9/1969 thì ông bị chuyển ra giam tại "Trại giam tù binh cộng sản Việt Nam" Phú Quốc. Từ đây, những ngày sống trong "địa ngục trần gian" khốc liệt và đẫm máu bắt đầu. Cũng chính tại đây, ông Đông được Đảng ủy nhà tù và Chi bộ "phân khu A2 Hạ sĩ quan" giao cho một nhiệm vụ bí mật và đặc biệt nguy hiểm.

Nhà tù nằm trên đảo Phú Quốc, giữa muôn trùng biển cả. Trại giam này có từ thời Pháp, tên đầu tiên là "Căng cây Dừa", sau đổi tên thành "Trại chỉnh huấn cây Dừa". Năm 1967 địch nâng cấp nhà tù thành "Trại giam tù binh Cộng sản Việt Nam", gồm 12 khu lớn, chia thành 40 phân khu nhỏ, giam giữ gần 40 nghìn tù binh. Giám đốc nhà tù là Đại tá ngụy Trần Vĩnh Đắc - "tác giả" vụ đầu độc thảm sát hàng nghìn tù nhân ở nhà tù Phú Lợi năm 1960. Trợ lý có các tên Nguyễn Vinh Hiển - Trưởng ban điều hành giám thị; Thượng sĩ Trần Văn Nhu, tức Bảy Nhu, kẻ "sở hữu" hơn 60 ngón đòn tra tấn khác nhau…

"Chúng từng trói 6 anh em, ném lần lượt từng người vào chảo nước đang sôi sùng sục, 5 người bị luộc chín, chỉ có anh thứ 6 là còn thoi thóp" - ông Đông rùng mình nhớ lại. Bản thân ông cũng đã chịu nhiều đòn trận thừa sống, thiếu chết.

Ông Nguyễn Văn Duyên - nguyên Phó bí thư chi bộ Đảng nhà tù kể: "Việc đóng đinh vào người tù binh; đục răng; đốt bộ hạ; trói chôn sống; trói cột bỏ đói; nướng chín người trên lửa… diễn ra như cơm bữa. Đây không phải việc tự phát trên đảo, mà do chính quyền Sài Gòn chỉ đạo. Chính tướng Nguyễn Văn Vỹ, Tổng trưởng Bộ Quốc phòng ngụy quyền Sài Gòn đã yêu cầu đàn áp tù binh tại huấn thị số 979-QP/HCTV/1/TB. Bởi vậy mà trong không đầy 6 năm (từ 1967 đến 1973), đã có hơn 4 nghìn chiến sĩ ta bị giết hại dã man, hàng chục nghìn người bị thương tật, tàn phế suốt đời".

Việc tra tấn vừa để khuất phục ý chí phản kháng của tù nhân, vừa nhằm phát hiện các tổ chức Đảng đang hoạt động bí mật. Để đối phó, Đảng uỷ nhà tù đã thành lập một lực lượng an ninh bí mật, thường gọi là "An ninh không số". Nhiệm vụ là điều tra, tiêu diệt nội gián, chỉ điểm; tiêu diệt bọn giám thị, quản giáo, quân cảnh ác ôn; cảnh giới cho tù binh đào hầm vượt ngục; bảo vệ các hoạt động tuyên truyền cách mạng trong nhà lao; bảo vệ các lãnh đạo trung cao cấp bị bắt nhưng chưa lộ diện... Ông Đông thuộc nhóm an ninh mật tại phân khu A2. Trong suốt 6 năm tại Phú Quốc, "An ninh không số" đã thi hành tử hình hơn 30 đối tượng phản bội, chỉ điểm; tiêu diệt và tấn công gây thương tích gần chục tên giám thị, quân cảnh, quản giáo ác ôn, có nợ máu với chiến sĩ ta; bảo vệ thành công 31 cuộc vượt ngục với 327 người thoát khỏi nhà tù, lên chiến khu (cũng ngay tại đảo Phú Quốc) để tiếp tục kháng chiến.

Ông Đông kể: "Hằng ngày máy bay địch quần đảo trên rừng, phát loa gọi hàng, nhờ vậy mà chúng tôi phát hiện ra trên đảo cũng có quân mình đang chiến đấu, nên càng có quyết tâm vượt ngục".

Sau Hiệp định Paris năm 1973, ông Đông cùng đồng đội được trao trả tại bờ sông Thạch Hãn. Xuất ngũ, ông chuyển ngành sang làm việc tại Công đoàn tỉnh Quảng Ninh. Năm 1980, những vết thương trong chiến tranh tái phát, hành hạ ông suốt ngày đêm, ông xin nghỉ mất sức. Về lại Tp Hải Dương, hai vợ chồng ông tần tảo làm lụng nuôi con. Dân phố nhiều người không biết ông già bán hàng nước ở cổng trường học đó từng là một chiến binh quả cảm, càng ít người biết ông là một nhà văn, nhà báo với 12 giải thưởng văn học, báo chí trong và ngoài quân đội.

Tác giả Nam Đông chia sẻ: Từ năm 1962, ông đã viết bài cho Báo Thiếu niên tiền phong. Tính đến nay, ông đã cộng tác viết bài cho hơn 30 tờ báo Trung ương và địa phương. Ông viết đều, viết khoẻ ở nhiều thể loại: báo chí, kịch bản phim, bút ký, truyện ngắn. Những tác phẩm truyền hình đoạt giải cao như: "Trở về từ địa ngục trần gian"; "Thép giữa đời thường"; "Những chiến sĩ an ninh không số" đều có công của ông trong vai trò cố vấn kịch bản; hoặc ông trực tiếp xây dựng kịch bản, viết lời bình cho tác phẩm. Hiện ông là Hội viên hội Văn học nghệ thuật tỉnh Hải Dương. Thượng tá Trần Văn Phổ - đạo diễn phim "Những chiến sĩ an ninh không số" cho biết: "Phim đoạt giải cao nhất một phần quan trọng là nhờ vào công xây dựng kịch bản, viết lời bình của nhà văn Nam Đông. Là người trong cuộc, nên ông có lợi thế khi viết. Các tình tiết trong phim đều rất chân thực, sống động, kết cấu hài hoà, hợp lý, có sức lan tỏa và lay động lòng người".

Cuộc nói chuyện của chúng tôi, chốc chốc lại bị ngắt quãng bởi các tốp khách đến nhà gặp ông. Qua câu chuyện, được biết họ đến nhờ ông coi giùm hướng nhà, hướng đất. Thì ra, ông còn là một bậc thầy về dịch lý, phong thủy. Ông cho biết, vì đam mê Kinh Dịch nên mấy chục năm qua ông đã dày công nghiên cứu bộ môn khoa học Đông phương này. Tại phòng làm việc, còn có một kỷ niệm chương của Hội Đông y Việt Nam tặng ông năm 2012, vì những đóng góp vào việc kế thừa, phát triển nền Đông y nước nhà. Ông chính là tác giả phổ biến các bài thuốc dân gian hay, đăng thường kỳ trên Báo Cựu chiến binh một thời. Hiện ông giữ chức Trưởng phòng tổ chức của Trung tâm kế thừa, ứng dụng Đông y tỉnh Hải Dương.

Nay tuy đã già yếu, nhưng ông Đông hầu như không có thời gian rỗi để đi chơi thăm thú bạn bè. Công việc vẫn cuốn đi của ông hầu hết thời gian. Tranh thủ được lúc nào ông lại cầm bút viết truyện, viết ký. Được biết, ông đã liên hệ với NXB CAND để in tập sách "Chuyện của những người anh hùng bây giờ mới kể", viết về những năm tháng ở "địa ngục trần gian" Phú Quốc. Ông nói: "Cả loài người đều biết Chúa Jesus bị đóng 2 đinh câu rút trên thánh giá. Nhưng bạn tôi, những người tù kiên trung bị địch đóng cả chục chiếc đinh trên người cho đến chết, vẫn lặng lẽ tan vào cát bụi. Tôi cần phải làm, phải viết nhiều hơn về họ, để đời sau phải nhớ những người con đã chết cho Tổ quốc, để tri ân anh em đã nhường tuổi cho chúng tôi được trở về già…"

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn