“Tai mắt” của Đảng ở chiến trường – Thượng tá Nguyễn Đức Viện
1. Tên bài viết:
“Tai mắt” của Đảng ở chiến trường – Thượng tá Nguyễn Đức Viện
2. Họ và tên nhân chứng:
Thượng tá Nguyễn Đức Viện
3. Đoạn mô tả ngắn:
Bài viết kể về Thượng tá Nguyễn Đức Viện – một cán bộ trinh sát kỹ thuật thám không, được giao nhiệm vụ khai thác tin tức của địch tại Trung ương Cục miền Nam. Với nghiệp vụ đặc biệt, ông đã thu giữ dịch mã hàng nghìn bức điện, cung cấp thông tin quan trọng cho cách mạng, góp phần vào chiến thắng.
4. Nội dung bài viết:
Cũng chi viện cho chiến trường miền Nam khi đang ở tuổi đôi mươi, Thượng tá Nguyễn Đức Viện lại có những kỷ niệm đặc biệt khi được là “tai, mắt” của Đảng ở chiến trường. Theo ông, ông vào ngành công an từ năm 16 tuổi, chuyên ngành trinh sát thám không. Năm 1972, cùng 500 cán bộ kỹ thuật chi viện, ông được phân vào Tiểu ban Bảo vệ chính trị, Ban An ninh Trung ương Cục.
Ông được giao nhiệm vụ khai thác tin tức của ngụy quyền Sài Gòn, thu mạng đài cảnh sát quốc gia, mạng đài gián điệp, biệt kích, đặc biệt là “Tình báo quân đội Việt Nam Cộng hòa”. Bằng nghiệp vụ đặc biệt, ông cùng đồng đội thu giữ dịch mã hàng nghìn bức điện, cung cấp nhiều thông tin quan trọng của địch cho cách mạng, có thông tin được báo cáo lên tận Trung ương Đảng.
Nhớ lại những ngày gian khổ vượt núi băng rừng, ông cho biết: “Cuối tháng 4/1972, đoàn chi viện gồm 21 người, máy móc, đi trên 5 xe com-măng-ca. Đến Hà Tĩnh gặp trận bom, may không thiệt hại. Tối hôm sau đến Quảng Bình trúng pháo kích, phải đi ngay. Đoàn băng rừng, 20km trong lòng suối cạn. Đến đường 9 giáp Lào, mất hơn 2 tuần đến Stung Treng (Campuchia), mới nghỉ chờ cán bộ Ban An ninh Trung ương Cục ra đón.” Lúc nghỉ chờ, 4-5 đồng chí sốt rét, nằm võng rên từng cơn.
Căn cứ Ban An ninh Trung ương Cục nằm trong cánh rừng ở Campuchia, dựng bằng thân cây rừng, lợp ni-lông. Ngày 19/5/1972, đơn vị bắt đầu dựng máy thu tin, chủ yếu từ mạng “Cảnh sát quốc gia” ở Tây Ninh và “Tình báo quân đội” ngụy. Các cán bộ vừa thu bắt tín hiệu, vừa tự đi kiếm củi, rau, măng rừng cải thiện bữa ăn. 100% cán bộ bị sốt rét. “Hết tháng này sang tháng khác, lúc nào căn cứ cũng có người bệnh, có người nằm trạm xá 2-3 tháng.”
Một lần, khoảng 13h, Mỹ rải thảm B52 ở căn cứ. “Trời đất tối tăm, cây cối gãy đổ, mảnh bom đạn vương vãi khắp nơi… Ba người hy sinh.” Sau Hiệp định Paris, đơn vị di chuyển về căn cứ ở Tây Ninh. Tháng 2/1975, ông được trở ra Bắc. Nguyễn Đức Viện – “tai mắt” của Đảng – đã góp phần không nhỏ vào công cuộc giải phóng miền Nam.



