Tài năng và nhân cách lớn của nhà chí sĩ yêu nước Nguyễn Văn Tố
Ứng Hòe Nguyễn Văn Tố (5/6/1889) thuộc thế hệ những trí thức của buổi giao thời khi nền học vấn Hán Nôm dần hết vai trò và chuyển sang nền văn hóa khoa học chữ Pháp - Quốc ngữ. Ông xuất thân trong một gia đình Nho học ở Hà Nội, từ nhỏ đã được đào tạo về Hán Nôm, có một vốn kiến thức phong phú về lịch sử và văn hóa Việt Nam. Lớn lên, ông học tiếng Pháp, tốt nghiệp trường Thông ngôn và sau đó làm việc tại Học viện Viễn Đông Bác cổ. Có thể nói, Nguyễn Văn Tố vừa là một trí thức Nho học, vừa là một
Làm việc trong Viện Hàn lâm của Chính phủ Pháp, nhưng Nguyễn Văn Tố luôn giữ thói quen là mặc bộ đồ cổ truyền: khăn xếp, áo the thâm, ô lục soạn. Nghiên cứu văn hóa phương Tây, đồng thời, ông rất say mê nghiên cứu lịch sử, văn hóa Việt Nam. Ứng Hòe Nguyễn Văn Tố đã viết, dịch, biên tập và hiệu đính nhiều tài liệu có giá trị về văn hóa, lịch sử. Ngoài thời gian làm việc ở công sở, ông thường viết bài in trên báo chí tiếng Việt như: Tri Tân, Đông Thanh, Thanh Nghị… và các báo tiếng Pháp về nhiều lĩnh vực như lịch sử, văn hóa, ngôn ngữ, khảo cổ, nghệ thuật... Ông là một trong những thành viên Hội Trí Tri và năm 1934, được bầu làm Hội trưởng thay cho Phạm Quỳnh được Bảo Đại mời vào kinh đô Huế làm Thượng thư Bộ học. Trên Tập san của Hội Trí Tri, đặc biệt trong khoảng từ 1932 đến 1936, ông đã viết nhiều bài nghiên cứu quan trọng bằng tiếng Pháp về lịch sử, khảo cổ, văn học, như “Tiền sử Bắc Kỳ”, “Nguồn gốc về chữ Quốc ngữ”, “Sử học và khảo cổ học Việt Nam”, “Bắc Kỳ vào thế kỉ XVII”… Ông đã soạn thảo được hai bộ sử học lớn là “Đại Nam dật sử” và “Sử ta so với sử Tàu”. Hai bộ sử trên đã được ông nghiên cứu khoa học, công phu, đối chiếu nhiều nguồn thư tịch; tranh luận kịch liệt với các nhà sử học Pháp, Đông Dương, để làm sáng tỏ các vấn đề với đầy đủ minh chứng một cách khoa học, cụ thể.



