TẤM ẢNH TRONG TÚI ÁO NGƯỜI LIỆT SĨ
Một chiến sĩ bị bom địch ngã xuống giữa rừng. Không ai biết tên tuổi, quê quán của anh. Chỉ biết trong túi áo anh có một tấm ảnh nhỏ cỡ 6x9. Ảnh tô màu khá đẹp. Người trong ảnh là một nữ công nhân, thân hình khỏe khoắn, mặc sơ mi trắng, tạp dề xanh trước ngực, tay cầm chiếc thoi dệt vải...
TTấm ảnh trong túi áo người liệt sĩ Năm 1968, hàng trăm trận mưa bom ác liệt trút xuống vùng căn cứ kháng chiến Liên khu 5. Quân địch bị tổn thất nặng ở thành phố trong trận Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân của quân ta, đã trút cơn giận dữ lên những khu rừng đại ngàn của Trường Sơn.Một chiến sĩ bị bom địch ngã xuống giữa rừng. Không ai biết tên tuổi, quê quán của anh. Chỉ biết trong túi áo anh có một tấm ảnh nhỏ cỡ 6x9. Ảnh tô màu khá đẹp. Người trong ảnh là một nữ công nhân, thân hình khỏe khoắn, mặc sơ mi trắng, tạp dề xanh trước ngực, tay cầm chiếc thoi dệt vải.Mấy chiến sĩ chụm đầu xem ảnh dự đoán: chắc là công nhân Dệt 8-3 hay Nam Định. Không biết cô công nhân trong ảnh có quan hệ thế nào với người chiến sĩ đã hy sinh. Bạn thân hay người yêu?...Chuyện cán bộ, chiến sĩ hy sinh ở chiến trường, dù là lúc đang chiến đấu hay trên đường hành quân, công tác, là chuyện thường ngày ở chiến trường miền Nam trong thời kháng chiến chống Mỹ. Nhưng tấm ảnh trong túi áo người chiến sĩ ngã xuống hôm ấy đã làm mọi người lặng đi hồi lâu, rưng rưng nước mắt. Chắc hẳn người trong ảnh ở hậu phương lớn sẽ vô cùng đau đớn khi hay tin anh chiến sĩ hy sinh vì nước giữa rừng sâu…Lật tấm ảnh, thấy mặt sau có bài thơ chép tay, nét chữ nắn nót. Bài thơ không có đầu đề, cũng không thấy ghi tên tác giả. Chỉ có 12 câu thơ năm chữ, chia làm ba khổ: Đợi anh vợi mùa xuân Chẳng thấy anh trở lại Chỉ thấy chim én về Và hoa đào vẫy mãi Tay vít một nhành hoa Níu áo mùa xuân, hỏi: “Vì người công tác xa Xuân ơi, Xuân có đợi ?” Xin một nụ trên cành Ủ kín vào thương nhớ Em để dành Mùa Xuân Đợi anh về mới nở… Anh em tấm tắc khen bài thơ hay, rất giàu tình cảm, đoán tác giả chắc là người trẻ tuổi. Thời giangấp rút, không có điều kiện để ngồi bình luận, thưởng thức bài thơ. Mấy anh lính trẻ vội chép bài thơ vào sổ tay để học thuộc lòng. Rồi, mỗi người mỗi ngả. Tôi được may mắn có mặt khi các chiến sĩ chuyền tay nhau xem ảnh, chép thơ. Biết tôi đang công tác ở Ban Tuyên huấn Khu ủy, anh em đã trao tấm ảnh cho tôi giữ để sau này may ra có thể tìm được người trong ảnh và gia đình người chiến sĩ hy sinh, chủ nhân tấm ảnh.Bài thơ không chép đầu đề, cũng không ghi tên tác giả, cho nên tôi cũng không biết tác giả là ai. Những năm ấy ở chiến trường, tôi cũng thường di chuyển luôn, nhiều lần đi công tác ở đồng bằng sát nách địch, nhưng tôi cố gắng giữ tấm ảnh, lòng luôn sợ ảnh bị thất lạc…Nhiều năm sau khi nước nhà thống nhất, tôi có ý định gửi tấm ảnh cho một tờ báo nào đó đăng lên, để may ra có người xem phát hiện ra cô công nhân trong ảnh, nhưng chưa làm, thì tình cờ được biết bài thơ có đầu đề là “Đợi anh về” và tác giả là Khương Hữu Dụng, nhà thơ lão thành mà tôi được quen biết từ những năm kháng chiến chống Pháp ở Liên khu 5. Khi viết “Đợi anh về”, nhà thơ đã ở tuổi sáu mươi chẵn. Tôi liền đem tấm ảnh có chép bài thơ đến nhà ông ở số nhà 36, phố Phan Bội Châu, Hà Nội. Lúc này nhà thơ đã ở tuổi ngoài thất thập. Tôi kể lại đôi nét về hoàn cảnh nhận được bức ảnh. Nhà thơ rất xúc động. Các chị Băng Kính, Tú Anh, con gái nhà thơ, nghe chuyện hết sức cảm kích, ngỏ ý được giữ bức ảnh có bài thơ chép ở mặt sau. Tôi đã trao bức ảnh cho gia đình cụ Khương Hữu Dụng giữ làm vật kỷ niệm. Tháng 5 năm 2010, chị Khương Băng Kính, con gái nhà thơ đã trao tặng tấm ảnh này cho Cuộc vận động sưu tầm và giới thiệu: “Những kỷ vật kháng chiến”.

