Tấm áo chưa may và khoảng lặng nghẹn ngào trong trái tim người Mẹ vĩ đại
Bản hùng ca đẫm nước mắt nhưng rực sáng lý tưởng về Bà mẹ Việt Nam anh hùng Nguyễn Thị Duân trên dải đất miền Trung nắng gió. Đi qua hai cuộc tiễn đưa rớm máu, nén nỗi đau mất con ở chiến trường Quảng Trị và Campuchia, mẹ vẫn biến mái nhà tranh thành hầm trú ẩn, gom góp từng bát cơm nuôi quân, trở thành biểu tượng bất tử của lòng yêu nước và đức hy sinh thầm lặng.
Chiến tranh đã lùi xa vào dĩ vãng, mảnh đất Phúc Lộc, tỉnh Nghệ An – nơi từng oằn mình gánh chịu những trận mưa bom bão đạn thảm khốc của kẻ thù – hôm nay đã khoác lên mình màu áo mới của sự hồi sinh và đổi thay kỳ diệu. Những con đường làng rộng mở thênh thang, những mái nhà ngói đỏ bình yên mọc lên san sát ngay trên vùng đất năm xưa chằng chịt hố bom, dấu tích tàn khốc của thời đạn lạc dần phai mờ theo bước đi của năm tháng. Thế nhưng, khi nhìn sâu vào đôi mắt mờ đục theo thời gian của Mẹ Nguyễn Thị Duân, chúng tôi chợt nhận ra rằng, có những nỗi đau vẫn còn âm ỉ cháy, vẹn nguyên và nhức nhối, chẳng thể nào nguôi ngoai trong trái tim của người mẹ hậu phương. Trong không gian tĩnh lặng, lời kể chậm rãi, đứt quãng của mẹ đưa chúng tôi ngược dòng thời gian trở về những tháng ngày gian khó đến quặn lòng, nơi có những đêm dài mẹ thức trắng thấp thỏm chờ tin con ngoài mặt trận, và có cả những giọt nước mắt lặng lẽ lăn dài trên gò má nhăn nheo khi nhắc về những người con thân yêu đã vĩnh viễn nằm lại nơi đất mẹ.
Mẹ Nguyễn Thị Duân sinh năm 1923, một người con của xã Nghi Mỹ, huyện Nghi Lộc xưa. Sinh ra và lớn lên trong một gia đình thuần nông nghèo khó, cuộc sống của mẹ từ thuở thiếu thời đã gắn chặt với bờ tre, gốc lúa nhưng vẫn túng quẫn, thiếu thốn đủ bề. Từ khi còn là một cô bé, mẹ đã phải đi ở nhặt nhạnh cho nhà giàu để đổi lấy miếng ăn và chắt chiu nuôi các em thơ khôn lớn. Chính những năm tháng cơ cực, đẫm mồ hôi ấy đã sớm hun đúc trong tâm hồn người phụ nữ xứ Nghệ đức tính chịu thương chịu khó, sự cần mẫn và một ý chí sắt đá trước nghịch cảnh. Khi lập gia đình, mẹ sinh được bảy người con, gồm năm trai và hai gái. Giữa bối cảnh quê hương sục sôi không khí kháng chiến, những người con của mẹ lớn lên dù trong đói nghèo nhưng lồng ngực luôn căng tràn lòng yêu nước sâu sắc và ý thức trách nhiệm thiêng liêng với vận mệnh của giang sơn.
Năm 1967, theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, người con trai cả Nguyễn Huy Vẹn hăng hái lên đường nhập ngũ. Nhắc về đứa con đầu lòng ấy, ánh mắt mẹ chùng xuống, giọng nghẹn lại trong niềm thương nhớ khôn nguôi về một người con tuy vóc dáng nhỏ nhắn nhưng sống vô cùng tình cảm, ngoan ngoãn. Anh đi biền biệt suốt mấy năm trời ròng rã nơi chiến trường khốc liệt, mãi đến mùa thu năm 1971 mới được đơn vị cho về phép vỏn vẹn 20 ngày để cưới vợ. Ai có ngờ đâu, bước chân về phép ngắn ngủi ấy lại là những ngày cuối cùng anh được quây quần, ăn bữa cơm đoàn viên bên gia đình. Ngày 4-7-1972, anh Nguyễn Huy Vẹn đã anh dũng hy sinh tại tọa độ lửa chiến trường Quảng Trị khi tuổi đời còn xanh mướt, ra đi khi chưa kịp để lại cho người vợ trẻ một mầm sống, một đứa con thơ. Ngày nhận giấy báo tử, người cha suy sụp hoàn toàn trước nỗi đau quá lớn, và chính trong khoảnh khắc tưởng chừng như đất trời sụp đổ ấy, mẹ Duân lại nuốt ngược nước mắt vào trong, kiên cường đứng vững để làm chỗ dựa tinh thần cho chồng và các con tiếp tục sống.
Nhưng thử thách của số phận vẫn chưa dừng lại ở đó. Năm 1980, khi vết thương lòng cũ còn chưa kịp lên da non, mẹ lại một lần nữa tiễn người con trai thứ sáu là anh Nguyễn Huy Đình lên đường nhập ngũ, mang theo sứ mệnh quốc tế cao cả tại chiến trường Campuchia. Một lần nữa, người mẹ ấy lại nén những giọt lệ sầu, tự tay sửa sang ba lô, động viên con vững bước ra trận vì nghĩa lớn. Mỗi lần nhắc đến anh Đình, mẹ lại lặng đi một khoảng dài, đôi mắt đỏ hoe như vết thương của hơn bốn mươi năm trước vừa mới bị cào xé. Đồng đội của anh kể lại rằng, năm 1982, sau những chuỗi ngày chiến đấu gian khổ, anh Đình háo hức chuẩn bị được nhận quyết định về phép thăm nhà. Biết sắp được gặp lại mẹ, anh đã nâng niu, dành dụm mua nhiều món quà nhỏ, trong đó đặc biệt nhất là một tấm vải màu mà anh định mang về kính tặng mẹ để may một chiếc áo mới. Thế nhưng, niềm mong ngóng ngày đoàn tụ mãi mãi hóa thành một khoảng trống mênh mông dưới lòng đất lạnh. Ngày 25-12-1982, anh Nguyễn Huy Đình đã anh dũng nằm lại trên chiến trường bạn. Những món quà chưa kịp trao tay, tấm vải nghĩa tình chưa kịp cắt may thành áo, tất cả trở thành những kỷ vật thiêng liêng, đẫm máu và nước mắt được đồng đội trân trọng gửi lại cho gia đình. Hai lần tiễn con đi, hai lần nhận về những tờ giấy báo tử lạnh lùng, trái tim mẹ như bị bóp nghẹt, thắt lại từng khúc, nhưng mẹ vẫn lặng lẽ gồng tấm lưng còng để gánh vác nỗi đau của cả một gia đình.
Không chỉ hiến dâng những khúc ruột bầm tím của mình cho tiền tuyến, trong những năm tháng kháng chiến chống Mỹ ác liệt nhất, ngôi nhà tranh nhỏ bé của mẹ Nguyễn Thị Duân còn được Ủy ban nhân dân xã Nghi Mỹ mượn làm nơi làm việc và trạm liên lạc mật của địa phương. Ngôi nhà ấy đã trở thành điểm dừng chân, che mưa che nắng cho biết bao lượt bộ đội hành quân qua địa bàn trước khi ra trận. Để bảo đảm an toàn cho các chiến sĩ và cán bộ xã trước những đợt oanh tạc điên cuồng của máy bay địch, chồng mẹ đã ngày đêm đào nhiều căn hầm chữ A kiên cố bao quanh khu vực nhà ở. Dẫu cuộc sống thời chiến nghèo khó, bữa cơm gia đình nhiều khi phải độn sắn độn khoai, nhưng mẹ vẫn luôn dành dụm, gom góp từng bát gạo, củ sắn để nấu cho bộ đội ăn no ấm lòng. Sự chuẩn bị kỹ lưỡng và tấm lòng son sắt, thủy chung của gia đình mẹ đã giúp bảo toàn mạng sống cho biết bao cán bộ, chiến sĩ qua những trận bom tàn khốc năm 1972.
Ghi nhận những đóng góp và hy sinh vô bờ bến ấy, Nhà nước đã trao tặng mẹ Huy chương kháng chiến Hạng Ba và vào ngày 8-10-2014, mẹ vinh dự được Chủ tịch nước phong tặng danh hiệu cao quý: Bà mẹ Việt Nam anh hùng. Giờ đây, dẫu khói bom đã tắt từ lâu, nhưng câu chuyện về cuộc đời của mẹ Nguyễn Thị Duân vẫn vẹn nguyên giá trị nhân văn và sức lay động tâm can mãnh liệt. Đó không đơn thuần là một câu chuyện về những mất mát, đau thương mang tính lịch sử, mà hình ảnh của mẹ đã hóa thân thành biểu tượng ngời sáng cho lòng yêu nước thuần khiết, đức hy sinh thầm lặng và ý chí kiên cường, quật khởi của những người mẹ Việt Nam – những người đã gánh cả giang sơn trên đôi vai gầy guộc của mình.



