“Tấm áo cũ của ba tôi”
Tôi sinh ra ở một xóm nhỏ ven sông Vàm Cỏ, Long An. Ba tôi là bộ đội. Mẹ chỉ có một tấm ảnh cũ của ba chụp trước ngày lên đường—mà trong ảnh, ông cười rất hiền, áo đã sờn vai.
Ngày ba đi, tôi còn chưa biết nói rõ chữ. Mẹ chỉ nói một câu:
“Ba con đi đánh giặc, khi nào hòa bình ba sẽ về.”
Nhưng ba không về.
Khoảng năm 1973, có người trong xã mang giấy báo tử đến nhà. Tôi không hiểu “liệt sĩ” là gì, chỉ thấy mẹ ngồi im rất lâu, không khóc thành tiếng. Sau đó mẹ cất tấm ảnh ba vào một cái hộp gỗ nhỏ, bọc vải kỹ như sợ ai làm rơi mất.
Từ đó, trong nhà chỉ còn hai mẹ con.
Sau giải phóng, xã bắt đầu làm lễ truy điệu cho các liệt sĩ. Tôi theo mẹ ra nghĩa trang. Ở đó có rất nhiều bia mộ mới dựng, ghi tên những người đã hy sinh.
Mẹ tôi đứng trước một ngôi mộ chưa có hài cốt, chỉ có tấm bia:
“Liệt sĩ chưa tìm được hài cốt – hy sinh tại mặt trận miền Đông.”
Mẹ khẽ nói, như nói với chính mình:
“Không biết ba con có nằm đâu trong này không…”
Một năm sau, có đoàn tìm kiếm hài cốt liệt sĩ về xã. Họ đào ở một khu rừng tràm cũ gần biên giới Long An – Campuchia. Trong số những di vật tìm được có một cái bi đông, một mảnh áo và một chiếc dép cao su đã mục.
Người ta không chắc đó có phải ba tôi không. Nhưng trên mảnh áo có một ký hiệu đơn vị mà mẹ từng nhìn thấy trong thư cuối cùng của ba.
Mẹ tôi chỉ nhìn, không nói gì. Rồi bà nhận lấy mảnh áo ấy.
Từ ngày đó, mẹ không còn đi làm đồng nhiều như trước. Bà để dành một góc nhỏ trong nhà, treo tấm áo cũ lên, cạnh ảnh ba tôi.
Bà nói với tôi:
“Dù có tìm được hài cốt hay không, ba con vẫn là liệt sĩ. Người ta không còn, nhưng cái nghĩa còn ở lại.”
Sau này lớn lên, tôi mới hiểu “thương binh liệt sĩ” không chỉ là một danh xưng. Nó là những người đã để lại một phần cơ thể hoặc cả cuộc đời mình trong chiến tranh, và những gia đình như tôi thì sống tiếp với ký ức đó.
Mỗi lần đến ngày 27/7, mẹ tôi lại thắp nhang rất lâu. Không chỉ cho ba, mà cho tất cả những người nằm lại trên mảnh đất Long An này.


