Tấm bằng “Tổ quốc ghi công” và lời kể của bà tôi (1)
Tấm bằng “Tổ quốc ghi công” và lời kể của bà tôi là câu chuyện được tái hiện qua lời kể chân thực của một người bà về người chồng – một người lính đã anh dũng hy sinh vì Tổ quốc.
CHI ĐOÀN CÔNG TY ĐIỆN LỰC THUẬN AN
TẤM BẰNG “TỔ QUỐC GHI CÔNG” VÀ LỜI KỂ CỦA BÀ TÔI
Trong ngôi nhà nhỏ của gia đình tôi, nơi trang trọng nhất luôn có một tấm bằng đã ngả màu thời gian. Khung kính cũ kỹ, giấy đã úa vàng theo năm tháng, vài nét chữ không còn rõ như trước. Nhưng với bà nội tôi, đó là thứ quý giá nhất đời.
Bà thường gọi đó là “tấm giấy của ông để lại”.
Tôi không biết từ khi nào, mỗi lần giỗ chạp hay những chiều yên ắng, bà lại ngồi thật lâu trước bàn thờ, mắt nhìn lên tấm “Tổ quốc ghi công” rồi kể về ông nội tôi – một người lính đã mãi mãi dừng lại ở tuổi thanh xuân.
Có lần, khi còn nhỏ, tôi hỏi bà:
-“Bà ơi, ông nội con là người như thế nào?”
Bà nhìn xa xăm một lúc rất lâu rồi khẽ nói:
- “Ông con hiền lắm… mà thương nhà lắm.”
Rồi câu chuyện của bà bắt đầu như thế.
Ngày ấy, quê nghèo lắm. Đất nước còn bộn bề khó khăn, khói lửa chiến tranh vẫn phủ lên biết bao mái nhà. Ông nội tôi khi ấy còn trẻ, cũng như bao thanh niên của một thời đầy biến động, mang trong lòng khát vọng giữ gìn quê hương.
Bà kể, ngày ông lên đường chẳng có gì nhiều. Không cờ hoa, không tiễn đưa rộn ràng như trong phim ảnh bây giờ. Chỉ có vài bộ quần áo cũ, chút đồ đạc đơn sơ và ánh mắt đầy lưu luyến khi nhìn người thân ở lại.
Bà vẫn nhớ như in ngày ấy.
Ông đứng trước sân nhà, nhìn bà thật lâu rồi nói:
- “Ở nhà ráng lo cho gia đình. Đất nước yên rồi tôi về…”
Một câu nói giản dị, nhưng bà nội tôi đã chờ cả đời mà không đợi được ngày ông trở lại.
Những năm sau đó, tin tức về ông thưa dần. Những lá thư gửi về cũng ít đi. Mỗi lần có người từ đơn vị về quê, bà lại thấp thỏm chạy sang hỏi tin, chỉ mong biết ông còn khỏe, còn bình an.
Rồi một ngày…
Tin dữ đến.
Bà kể rằng hôm ấy trời rất buồn. Có người mang giấy báo về nhà. Lúc đó bà không khóc ngay. Chỉ ngồi lặng đi, tay run run cầm tờ giấy báo tin mà không tin đó là sự thật.
Ngày 14 tháng 7 năm 1957, ông nội tôi đã anh dũng hy sinh.
Bà nói nhỏ, giọng nghẹn lại:
- “Lúc đó ông con còn trẻ lắm… còn chưa kịp sống cho mình.”
Có lẽ điều đau lòng nhất của chiến tranh không chỉ là mất mát, mà là những cuộc chia ly không có ngày gặp lại. Người ra đi mang theo tuổi trẻ, còn người ở lại dành cả cuộc đời để nhớ.
Nhiều năm sau, gia đình nhận được tấm “Tổ quốc ghi công” của Nhà nước trao tặng cho ông.
Bà lau chùi nó rất kỹ.
Treo nó ở nơi cao nhất trong nhà.
Không phải để khoe với ai, mà như để nhắc con cháu rằng trong gia đình này từng có một người đã ngã xuống vì đất nước.
Tôi nhớ có lần hỏi:
- “Bà có nhớ ông không?”
Bà cười, nụ cười buồn buồn:
- “Nhớ chứ con… nhớ cả đời chớ sao không nhớ. Nhưng bà tự hào. Ông con mất cho đất nước được bình yên.”
Rồi bà lại nhìn lên tấm bằng cũ đã phai màu.
Có những lúc tôi nghĩ, thời gian thật lạ. Nó có thể làm bạc mái tóc của bà, làm cũ đi khung gỗ, làm nhạt màu tấm giấy năm nào… nhưng không thể làm vơi đi nỗi nhớ của một người vợ dành cho chồng, cũng như niềm tự hào về một người lính đã hy sinh vì Tổ quốc.
Lớn lên từ những lời kể của bà, tôi hiểu rằng hòa bình hôm nay không tự nhiên mà có. Nó được đánh đổi bằng tuổi xuân, bằng máu và cả những cuộc đời mãi mãi dang dở như ông nội tôi.
Ông chưa từng trở về.
Nhưng bằng một cách nào đó, ông vẫn luôn hiện diện trong căn nhà nhỏ ấy - qua lời kể chậm rãi của bà tôi, qua nén nhang mỗi ngày giỗ, qua ánh mắt lặng đi của những người thân và qua tấm “Tổ quốc ghi công” đã lặng lẽ ở đó suốt gần bảy thập kỷ.
Để nhắc thế hệ hôm nay rằng: có những con người tuy đã nằm lại với đất mẹ từ rất lâu, nhưng sự hy sinh của họ thì chưa bao giờ là quá khứ.


