Bài viết

Tấm giấy thông hành đến quá muộn

Tháng 11 năm 1947, một cán bộ mang giấy thông hành bí mật vào Bắc Kạn tìm cách giải cứu cụ Nguyễn Văn Tố. Nhưng khi đoàn chưa tới nơi, vị Trưởng ban Thường trực Quốc hội đầu tiên đã bị quân Pháp sát hại.

Hà Nội22/08/2026Chi Đoàn trường TH&THCS Nguyễn Du (Tuy Đức)1 lượt xem0 lượt chia sẻ

Trong kho hiện vật của Bảo tàng Lịch sử Quốc gia có một tờ giấy nhỏ đã úa màu. Đó là Giấy thông hành số 9, đề ngày 2 tháng 11 năm 1947, do Ban An toàn khu thuộc Văn phòng Chủ tịch Chính phủ cấp.

Tờ giấy giới thiệu ông Nguyễn Quốc Thập đang thi hành một “công tác đặc biệt” tại Bắc Kạn. Các ủy ban hành chính kháng chiến, đơn vị bộ đội, công an và dân quân địa phương được yêu cầu giúp đỡ ông về mọi phương diện, nhất là giao thông và liên lạc.

Không có tên người cần tìm trên tờ giấy. Nhiệm vụ phải được giữ bí mật bởi quân Pháp đang mở cuộc tiến công lớn vào căn cứ Việt Bắc. Người mà ông Nguyễn Quốc Thập được cử đi tìm chính là cụ Nguyễn Văn Tố, Trưởng ban Thường trực đầu tiên của Quốc hội Việt Nam.

Đoàn công tác muốn đưa cụ thoát khỏi vùng nguy hiểm, trở về An toàn khu gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh và dự một cuộc họp quan trọng. Nhưng đoàn chưa tới nơi thì nhận được tin cụ đã bị quân Pháp sát hại.

Tấm giấy thông hành đã đến quá muộn.

Nguyễn Văn Tố sinh ngày 5 tháng 6 năm 1889 tại làng Đông Thành, nay thuộc khu vực phố Bát Sứ, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội. Ông lớn lên trong một gia đình có truyền thống Nho học, nhưng lại trưởng thành vào thời điểm nền học vấn cũ đang dần nhường chỗ cho chữ Quốc ngữ và khoa học phương Tây.

Với tên hiệu Ứng Hòe, Nguyễn Văn Tố trở thành một học giả nổi tiếng. Ông nghiên cứu nhiều lĩnh vực như lịch sử, văn học, văn bản học, khảo cổ, ngôn ngữ và văn hóa dân gian. Tuy nhiên, ông không muốn kiến thức chỉ nằm trong sách vở hay những căn phòng dành riêng cho giới trí thức.

Ngày 25 tháng 5 năm 1938, Hội Truyền bá Quốc ngữ được thành lập và Nguyễn Văn Tố được bầu làm Hội trưởng. Dưới chế độ thuộc địa, phần đông người Việt Nam không biết đọc, biết viết. Việc mở lớp dạy chữ vì thế không đơn thuần là hoạt động giáo dục. Biết chữ giúp người dân đọc báo, tiếp nhận kiến thức và hiểu rõ hơn tình cảnh của đất nước mình.

Những lớp học được tổ chức vào buổi tối, trong đình làng, nhà dân hoặc bất cứ nơi nào có thể kê được bàn ghế. Giáo viên phần lớn là những thanh niên, học sinh và trí thức tình nguyện. Người lao động sau một ngày làm việc lại tìm đến lớp, tập viết từng chữ dưới ánh đèn dầu.

Chỉ riêng tại Bắc Kỳ, từ năm 1938 đến năm 1944, Hội đã tổ chức 820 lớp học, huy động 2.903 giáo viên và thu hút 41.118 học viên. Một thống kê khác cho biết, từ khi Hội được thành lập đến Cách mạng tháng Tám, hơn bảy vạn người đã được giúp thoát khỏi nạn mù chữ.

Khi Cách mạng tháng Tám thành công, học giả Nguyễn Văn Tố nhận lời tham gia Chính phủ lâm thời. Ông được giao giữ chức Bộ trưởng Bộ Cứu tế xã hội.

Đó là một nhiệm vụ nặng nề. Chính quyền cách mạng vừa ra đời phải đối mặt với hậu quả của nạn đói năm 1945, ngân khố gần như trống rỗng và đời sống nhân dân vô cùng khó khăn. Nguyễn Văn Tố cùng Chính phủ tham gia tổ chức cứu đói, phục hồi sản xuất và ổn định cuộc sống của người dân.

Ngày 6 tháng 1 năm 1946, cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên được tổ chức trên cả nước. Nguyễn Văn Tố trúng cử đại biểu Quốc hội. Tại kỳ họp đầu tiên ngày 2 tháng 3 năm 1946, ông được bầu làm Trưởng ban Thường trực Quốc hội, chức vụ tương đương Chủ tịch Quốc hội ngày nay.

Một học giả từng lặng lẽ sửa chữa những văn bản cổ và mở lớp dạy chữ cho người nghèo nay trở thành người đứng đầu cơ quan thường trực của Quốc hội đầu tiên trong lịch sử nước Việt Nam mới.

Trên cương vị ấy, ông cùng Quốc hội sát cánh với Chính phủ do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu. Ban Thường trực Quốc hội tham gia góp ý các chính sách về kinh tế, tài chính, văn hóa và xã hội, đồng thời giám sát hoạt động của Chính phủ trong hoàn cảnh nền độc lập còn hết sức mong manh.

Sau ngày Toàn quốc kháng chiến 19 tháng 12 năm 1946, Nguyễn Văn Tố rời Hà Nội, cùng các cơ quan Trung ương lên Việt Bắc. Dù đã gần sáu mươi tuổi, ông vẫn đi qua những con đường rừng, tới thăm hỏi nhân dân và nắm tình hình kháng chiến.

Tháng 10 năm 1947, quân Pháp mở Chiến dịch Léa, cho quân nhảy dù xuống Bắc Kạn với ý đồ bắt giữ cơ quan đầu não và nhanh chóng kết thúc cuộc kháng chiến. Trong cuộc tiến công bất ngờ ấy, Nguyễn Văn Tố rơi vào tay đối phương.

Quân Pháp không biết ngay người bị bắt là một thành viên quan trọng của Chính phủ Việt Nam. Cụ không khai rõ thân phận, cũng không cung cấp thông tin về nơi làm việc của các cơ quan lãnh đạo kháng chiến. Không đạt được mục đích, quân Pháp đã sát hại cụ tại Bắc Kạn.

Đầu tháng 11, ông Nguyễn Quốc Thập vẫn mang theo giấy thông hành lên đường tìm kiếm. Người cán bộ ấy có lẽ đã đi qua những con đường đầy trạm gác, những khu rừng vừa bị máy bay đánh phá và những bản làng đang sơ tán. Nhưng nhiệm vụ giải cứu không còn cơ hội thực hiện.

Tờ giấy thông hành được giữ lại như chứng tích của một nỗ lực bất thành. Nó cũng nhắc nhớ về cuộc đời đặc biệt của Nguyễn Văn Tố: từ người truyền bá chữ Quốc ngữ, một học giả uyên bác, ông bước vào Chính phủ và Quốc hội, rồi hy sinh trong những ngày đầu của cuộc kháng chiến.

Ông không cầm súng nơi chiến hào. Vũ khí đầu tiên ông lựa chọn là con chữ. Nhưng khi đất nước cần, người học giả ấy vẫn rời thư phòng, đi cùng Chính phủ lên chiến khu và giữ bí mật cho cuộc kháng chiến đến phút cuối cùng.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn