Tấm gương Anh hùng, Liệt sĩ Trần Can - Khúc tráng ca vinh quang bình minh ngày đại thắng
Khúc tráng ca vinh quang bình minh ngày đại thắng: Tấm gương Anh hùng, Liệt sĩ Trần Can
Trong cuốn sử biên niên bằng vàng của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Chiến dịch Điện Biên Phủ chính là đỉnh cao chói lọi, nơi hội tụ ý chí quật cường của cả một dân tộc "quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh". Để làm nên chiến thắng "lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu" ngày 7 tháng 5 năm 1954, hàng vạn người con ưu tú đã ngã xuống khi tuổi đời còn xanh phơi phới. Nổi lên như một biểu tượng của lòng dũng cảm, một trong bốn anh hùng tiêu biểu nhất của toàn chiến dịch (bên cạnh Tô Vĩnh Diện, Bế Văn Đàn, Phan Đình Giót) chính là Anh hùng, Liệt sĩ Trần Can (1931 – 1954). Trên cương vị là Đại đội phó bộ binh thuộc Trung đoàn 209, Đại đoàn 312, cuộc đời ông đã viết nên một bài văn hào hùng, một nốt nhạc bi tráng vang lên ngay trước thềm bình minh của ngày toàn thắng.
Quyết tâm sắt đá của người thanh niên đất Nghệ
Anh hùng Trần Can sinh năm 1931, thuộc dân tộc Kinh, tại làng Tràng Sơn, xã Sơn Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An – vùng đất sỏi đá nhưng luôn rực lửa tinh thần yêu nước. Sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo, chứng kiến cảnh nước mất nhà tan, ngay từ nhỏ Trần Can đã ôm ấp ước mơ được cầm súng ra trận bảo vệ quê hương.
Ý chí tòng quân của người thanh niên ấy lớn lao đến mức, ông đã 3 lần trốn mẹ xung phong đi bộ đội nhưng đều bị từ chối vì vóc dáng nhỏ bé, sức khỏe yếu. Không hề nản chí, đến lần thứ 4 vào năm 1951, nhờ sự kiên trì và khát khao cứu nước mãnh liệt, người thanh niên 20 tuổi mới chính thức trúng tuyển, được biên chế vào Trung đoàn 209, Đại đoàn 312. Bước vào đời lính, qua các chiến dịch Biên giới hay Tây Bắc, Trần Can nhanh chóng bộc lộ tư chất của một chiến sĩ bộ binh mưu trí, lỳ lợm, luôn dùng thủ pháo xung kích đánh thẳng vào sở chỉ huy đầu não của địch.
Người cắm lá cờ chiến thắng đầu tiên trên cứ điểm Him Lam
Đỉnh cao vinh quang và những trang sử hào hùng nhất của Trần Can gắn liền với 56 ngày đêm rực lửa tại lòng chảo Điện Biên Phủ. Ngày 13 tháng 3 năm 1954, trận mở màn chiến dịch lịch sử bùng nổ tại Trung tâm đề kháng Him Lam – một "vành đai thép" kiên cố bảo vệ tập đoàn cứ điểm của quân Pháp. Tiểu đội do Trần Can chỉ huy vinh dự nhận nhiệm vụ làm mũi nhọn thọc sâu, đánh chiếm lô cốt cốt tử và cắm lá cờ “Quyết chiến, quyết thắng” của Chủ tịch Hồ Chí Minh lên cứ điểm này.
Ngay khi lệnh nổ súng ban ra, trước hỏa lực dày đặc của địch nã xuống, Trần Can dũng cảm dẫn đầu tiểu đội vượt qua cửa mở, dùng thủ pháo liên tiếp dập tắt các ổ súng máy. Khi cả tiểu đội bị thương vong gần hết, ông vẫn cùng hai chiến sĩ còn lại tổ chức thành "tổ ba người" kiên cường bám trụ, đánh thẳng vào trung tâm chỉ huy, bắt sống 22 tên giặc và tịch thu toàn bộ vũ khí. Trong niềm vui vỡ òa của đồng đội, chính tay Trần Can đã cắm lá cờ Tổ quốc đỏ thắm lên đỉnh cứ điểm Him Lam, báo hiệu trận mở màn toàn thắng.
Sự hy sinh oanh liệt buổi sáng ngày đại thắng
Sau chiến thắng Him Lam, Trần Can được đề bạt làm Đại đội phó bộ binh. Trong suốt đợt tấn công thứ hai và thứ ba, ông tiếp tục chỉ huy đại đội bám trụ chiến hào, tổ chức các trận đánh vây lấn vây bọc đào khoét vào tận ruột gan quân thù. [1]
Đêm ngày 6 tháng 5 năm 1954, đơn vị của Trần Can được giao nhiệm vụ đánh chiếm điểm cao 507 – cứ điểm phòng ngự cuối cùng, chỉ cách sở chỉ huy của tướng De Castries khoảng 300 mét. Trận đánh diễn ra vô cùng ác liệt và nghẹt thở, quân ta và quân Pháp giành giật nhau từng tấc đất, thước chiến hào. Địch điên cuồng nã pháo, ném lựu đạn tới tấp và tung bộ binh phản kích hòng chiếm lại cửa ngõ tiến vào Mường Thanh.
Lúc này, toàn bộ ban chỉ huy đại đội đều đã hy sinh hoặc bị thương nặng, bản thân Trần Can cũng bị thương rất nặng, máu tuôn xối xả. Thế nhưng, người đại đội phó ấy vẫn giữ sự bình tĩnh đáng kinh ngạc. Ông nén đau đớn, nhặt những quả lựu đạn của địch ném trả lại, trực tiếp thay thế đại đội trưởng đứng lên chỉ huy bộ đội đánh giáp lá cà. Đến rạng sáng ngày 7 tháng 5 năm 1954, ông chấn chỉnh lại lực lượng, tập hợp những thương binh nhẹ, động viên anh em dồn chút sức tàn bẻ gãy đợt phản kích lần thứ 5 của quân Pháp, giữ vững trận địa bao vây tạo thế tiến công trực diện vào trung tâm Mường Thanh.
Giữa làn khói súng đặc quánh, khi tiếng súng của quân giặc bắt đầu suy yếu, một loạt hỏa lực bất ngờ dội xuống. Đồng chí Trần Can đã trúng đạn và anh dũng hy sinh vào buổi sáng ngày 7 tháng 5 năm 1954. Chỉ vài giờ sau đó, lúc 17 giờ 30 phút cùng ngày, lá cờ chiến thắng của quân đội ta tung bay trên nóc hầm De Castries, chiến dịch Điện Biên Phủ toàn thắng. Người chiến sĩ trẻ tuổi ấy đã ngã xuống ngay ngưỡng cửa của hòa bình, hiến dâng trọn vẹn xương máu cho ngày hội non sông.
Di sản bất tử của người anh hùng cắm cờ
Ghi nhận công lao vĩ đại và tinh thần quyết tử, ngày 07/05/1956, Liệt sĩ Trần Can đã được Đảng và Nhà nước truy tặng Huân chương Quân công hạng Nhì cùng danh hiệu cao quý Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân.
Ngày nay, phần mộ của Anh hùng Trần Can nằm trang trọng tại Nghĩa trang liệt sĩ đồi A1, thành phố Điện Biên Phủ. Những kỷ vật thiêng liêng của ông, đặc biệt là chiếc mũ nan bọc vải xô trắng – chiếc mũ đồng hành cùng ông vượt qua mưa bom bão đạn để cắm cờ trên cứ điểm Him Lam – hiện đang được lưu giữ trang trọng tại Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam như một chứng nhân lịch sử vô giá. Tên của ông cũng được trân trọng đặt cho nhiều con đường, ngôi trường trên khắp cả nước, mãi mãi là ngọn hải đăng thắp sáng ngọn lửa yêu nước và lý tưởng sống cao đẹp cho các thế hệ thanh thiếu niên Việt Nam.



