Tấm gương chiến đấu kiên cường trên mặt trận Dân chủ, kiên trung trong lao tù đế quốc
Tháng 6/1936, Mặt trận Nhân dân Pháp lên cầm quyền đã thi hành một số chính sách tiến bộ ở thuộc địa. Trước hoàn cảnh lịch sử mới, tháng 7/1936, tại Thượng Hải, đồng chí Lê Hồng Phong đã triệu tập và chủ trì Hội nghị Trung ương bổ sung Nghị quyết Đại hội lần thứ nhất và chỉ đạo chuyển hướng tổ chức và sách lược của Đảng, ra chủ trương thành lập Mặt trận Thống nhất nhân dân phản đế nhằm chuẩn bị về mọi mặt để đưa phong trào cách mạng chuyển sang cao trào 1936 - 1939. Đến tháng 11/1937, đồng chí đã bí mật về Sài Gòn, cùng Trung ương Đảng tích cực chỉ đạo việc thực hiện chủ trương chiến lược mới của Đảng.
Bất chấp sự theo dõi gắt gao của hệ thống mật thám tay sai, đồng chí Lê Hồng Phong vẫn sát cánh cùng các đồng chí trong Ban lãnh đạo Trung ương Đảng và Xứ uỷ Nam Kỳ nhằm bí mật chuẩn bị cho Hội nghị Trung ương. Sau một thời gian tích cực chuẩn bị, từ ngày 29 đến 30/3/1938, Hội nghị Trung ương Đảng đã được tổ chức tại làng Tân Thới Nhất gần Bà Điểm, Hóc Môn, tỉnh Gia Định. Hội nghị quyết định nhiệm vụ trọng tâm lúc này là thành lập Mặt trận Dân chủ thống nhất phù hợp với tình hình lịch sử mới.
Tài liệu mật số 2285-S ngày 23 tháng 6 năm 1939 của Trưởng An ninh gửi Chính phủ Nam Kỳ tại Sài Gòn; Tổng thanh tra Cảnh sát tại Hà Nội; Trưởng khu vực – Sở công an tại Hà Nội, Huế, Phnompenh, Viên Chăn; Các hướng dẫn cung cấp thông tin; Từ Đặc vụ Sài gòn; Văn phòng điều hành bên ngoài Đảng Cộng sản Đông Dương; Ủy ban trung ương của Đảng Cộng sản Đông Dương đã viết:
“… Vào đầu tháng 12 năm 1938, đặc vụ Sài Gòn nghi ngờ rằng Lê Huy Doãn hay là Lê Hồng Phong, Litvinov (Ảnh kèm theo), là thành viên của Văn phòng điều hành bên ngoài Đảng Cộng sản Đông Dương, có thể tìm thấy ở Nam Kỳ dưới một chứng minh thư là người Trung Quốc, đã yêu cầu S.S.A hỏi ( tại Ghi chú số 6250-S ngày 12/12/1938) gửi cho ông ấy một bản sao chụp ảnh dấu vân tay của kẻ kích động này với mục đích thực hiện xác minh trong bảng sắp xếp của Phòng xuất nhập cảnh ở Sài Gòn.
Bản xác minh này có thể được làm từ đầu tháng 1 năm 1939 và đã tiết lộ rằng Lê Huy Doãn hay là Lê Hồng Phong đã đến Nam Kỳ ngày 10 tháng 11 năm 1937 dưới cái tên người Trung Quốc là La Anh, C.I. Số 274.495, sinh năm 1902 tại Hồ Nam, Trung Quốc…”([7])
Đồng chí Lê Hồng Phong cùng với Ban lãnh đạo của Đảng đã tích cực tham gia khôi phục tổ chức của Đảng và lãnh đạo phong trào dân chủ. Bên cạnh tham gia chỉ đạo phong trào cách mạng ở các tỉnh Nam Kỳ, ngòi bút sắc sảo, đầy bản lĩnh của đồng chí Lê Hồng Phong thực sự đã biến báo chí trở thành một mặt trận đấu tranh hiệu quả, góp phần vào những thắng lợi của phong trào dân tộc dân chủ năm 1936-1939 ở nước ta. Đồng chí Lê Hồng Phong với bút danh TB đã có nhiều bài viết đăng trên báo Dân chúng- cơ quan ngôn luận của Đảng Cộng sản Đông Dương ở Nam Kỳ. Những bài viết có nội dung trao đổi, tranh luận nhằm tập hợp tối đa lực lượng cho cuộc đấu tranh chống chiến tranh và ngăn chặn sự thoả hiệp với các phần tử tơrốtxkít. Tiếp đó, với bút danh Trí Bình, đồng chí Lê Hồng Phong đã tiếp tục sử dụng ngòi bút lý luận của mình, biên soạn và xuất bản tác phẩm Vấn đề phòng thủ Đông Dương vào ngày 28/8/1939 đã đáp ứng kịp thời yêu cầu của thực tiễn cách mạng lúc đó…
Những hoạt động tư tưởng lý luận của đồng chí Lê Hồng Phong thời kỳ 1938 - 1939 đã có đóng góp tích cực trong công tác tuyên truyền, cổ động các quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng Cộng sản Đông Dương, đồng thời uốn nắn những nhận thức mơ hồ lệch lạc trên các vấn đề chiến lược, sách lược trong một bộ phận đảng viên và quần chúng nhân dân. Tấm gương chiến đấu kiên cường trên mọi lĩnh vực của đồng chí Lê Hồng Phong và các đồng chí của mình đã củng cố sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, tạo nên một cao trào đấu tranh dân chủ vô cùng sôi nổi trong chiều dài lịch sử của dân tộc.
Ngày 22/6/1939, đồng chí Lê Hồng Phong “bị bắt tại Sài Gòn”([8]). Mật thám Pháp đã dùng đủ mọi thủ đoạn, từ cực hình tra tấn đến dụ dỗ, mua chuộc hòng khai thác các cơ sở cách mạng từ người cộng sản Lê Hồng Phong. Tuy nhiên, tất cả âm mưu của chúng đều bị thất bại trước tấm gương kiên trugn ấy. Kẻ địch không lay chuyển được ý chí kiên cường của đồng chí, ngày 30/6/1939, “Hội đồng Đề hình ngụy quyền Sài Gòn kết án 6 tháng tù giam, 3 năm cấm lưu trú và trục xuất khỏi Nam Kỳ”([9]).
Ngày 23/12/1939, hết hạn tù giam được trả tự do, đồng chí Lê Hồng Phong dự định tiếp tục ở lại Sài Gòn hoạt động. Tuy nhiên, nhận thức rõ vai trò quan trọng của đồng chí với phong trào cách mạng, Thống đốc Nam Kỳ đã ra Nghị định số 5654 trục xuất Lê Hồng Phong khỏi Nam Kỳ. Tiếp đó, ngày 14/11/1939, Toàn quyền Đông Dương đã ra Quyết định số 7910 lệnh cho Phủ Toàn quyền, Thống đốc Nam Kỳ, Chánh thanh tra mật thám Đông Dương không cho Lê Hồng Phong cư trú tại Nam Kỳ, lãnh thổ Cao Miên và nhiều địa phương ở Nam Trung Bộ và Tây Nguyên... Cảnh sát Pháp đã "dẫn độ" Lê Hồng Phong rời khỏi Sài Gòn về quê chịu quản thúc quê nhà.
Ở Nghệ An, vượt qua mọi sự kiểm soát, kìm kẹp của hệ thống mật thám tay sai dày đặc, đồng chí vẫn kiên trì kết nối để tiếp tục hoạt động cách mạng, tiếp tục viết báo, chiến đấu trên mặt trận chính trị, lý luận. Lo sợ trước những hoạt động của đồng chí, thực dân Pháp tiếp tục bắt giam đồng chí lần thứ hai ngày 30/1/1940.
Mặc những trận đòn roi kẻ thù trút lên cơ thể tưởng như chết đi sống lại, đồng chí Lê Hồng Phong vẫn luôn nêu cao khí tiết người chiến sỹ cách mạng, một mực kiên trung. Lo sợ trước ảnh hưởng đồng chí Lê Hồng Phong đã được Chánh Liêm phóng Trung kỳ đã đặc biệt nhấn mạnh “cần phải giam giữ” trong Công văn mật số 400ngày 26 tháng 2 năm 1940 gửi Khâm sứ Trung kỳ tại Huế có nội dung như sau: “… Lê Huy Doãn tức Lê Hồng Phong tức Litvinoff, một người từ Nga về nữa , quê Nghệ An, cũng bị kết án tại Nam Kỳ và mãn hạn thì bị trục xuất , đã bị bắt ngày 30 tháng 01 vừa qua trong cùng những điều kiện như trên, và được giải về cho thẩm phán Sài Gòn xử lý.
Mặc dù các biện pháp này tạm thời làm cho những người bản xứ này không thể hoạt động tuyên truyền cách mạng được, họ vẫn - trong khi chờ đợi Tòa án quyết định về số phận của mình - nằm trong danh sách các phần tử nguy hiểm cần giam giữ, chiếu theo các khoản của sắc lệnh ngày 21 tháng 01 năm 1940.”([10])
Cuối năm 1940, đồng chí Lê Hồng Phong bị chính quyền thực dân Pháp ra Côn Đảo với mục đích giết dần, giết mòn tù nhân 9983([11]) bằng chế độ lao dịch khắc nghiệt. Các phòng giam ở Banh 2, phòng giam số 19 hay ở xà lim số 5 là nơi chứng kiến chế độ lao tù khắc nghiệt mà đồng chí Lê Hồng Phong phải trải qua: "… Sau một ngày khổ sai mệt nhọc, dưới những trận mưa roi tàn ác, mặt đồng chí Lê Hồng Phong hằn lên những vết roi ngang dọc, chỗ tím bầm, chỗ sưng húp lên, có chỗ còn loét ra, ri rỉ máu…"([12]).Sự hành hạ cả thể xác lẫn tinh thần của địch không thể lung lay ý chí của người cộng sản nhưng nó khiến sức khỏe của đồng chí ngày càng suy kiệt, chân tay dần bị teo lại, cùng với bệnh kiết lỵ khá nặng…
Trong chốn lao tù tối tăm, đồng chí Lê Hồng Phong vẫn giữ vững bản lĩnh kiên cường của người cộng sản, luôn dõi theo, lạc quan tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng. Như ngọn hải đăng tỏa sáng trong đêm tối ngục tù Côn Đảo, đồng chí Lê Hồng Phong đã giới thiệu những thành tựu trong công cuộc xây dựng Chủ nghĩa Xã hội ở Liên Xô để củng cố niềm tin cho tất cả các anh em đồng chí. Niềm tin mãnh liệt của đồng chí đã lan tỏa trong ngục tù, góp phần tích cực vận động và chỉ đạo anh em tù đấu tranh chống lại những luật lệ hà khắc của nhà tù đế quốc.
Ngày 6/9/1942, do chế độ lao tù khắc nghiệt, người chiến sỹ cộng sản kiên cường Lê Hồng Phong đã trút hơi thở cuối cùng trong vòng tay đồng chí, đồng đội trong xà lim số 5, banh II của nhà tù Côn Đảo. Trước lúc hy sinh, đồng chí vẫn không quên nhắn lại với các đồng chí của mình: “Nhờ các đồng chí nói với Đảng rằng, tới giờ phút cuối cùng, Lê Hồng Phong vẫn một lòng tin tưởng vào thắng lợi vẻ vang của cách mạng”.



